mật cá chình có tác dụng gì

Tổng hợp các bài viết thuộc chủ đề mật cá chình có tác dụng gì xem nhiều nhất, được cập nhật mới nhất ngày 25/09/2021 trên website Haisantuoisong.net. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung mật cá chình có tác dụng gì để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Các bài viết trong chủ đề mật cá chình có tác dụng gì

Tìm thấy #151 tin bài liên quan mật cá chình có tác dụng gì


【#1】Châu Âu: Gắn kết thủy sản và kinh tế du lịch

Ngành du lịch đã tạo ra 2,6 triệu việc làm cho cư dân ven biển trên toàn châu Âu. Đó chính là lý do ngành này trở thành một trong những lĩnh vực kinh tế tiềm năng nhất về tốc độ tăng trưởng trong tương lai tại đây.

Chèo thuyền kayak tham quan trại nuôi vẹm tại Ebro Delta, Tây Ban Nha   Ảnh: Fornet

Chèo thuyền kayak tham quan trại nuôi vẹm tại Ebro Delta, Tây Ban Nha Ảnh: Fornet

Chiến lược “FLAG”

FLAG là một tổ chức đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động phát triển thủy sản và du lịch tại châu Âu. FLAG gồm các thành viên là tư nhân hoặc nhà nước hoạt động trong ngành khai thác, nuôi trồng thủy sản và đều có tâm huyết trong công cuộc thúc đẩy sự phát triển của các cộng đồng ven biển. Nhiều quốc gia không ngại đầu tư để phát triển tổ chức này như Bộ Nông nghiệp, Thực phẩm và Biển Ireland đã tuyên bố gây quỹ 12 tỷ bảng Anh cho hoạt động của 7 FLAG tại quốc gia này vào năm ngoái. Các FLAG trên toàn châu Âu hoạt động ở những vùng địa lý khác nhau và thực hiện những chiến lược riêng để phát triển thủy sản – du lịch.

Để thu hút khách du lịch, khu vực do FLAG quản lý phải đáp ứng được các điều kiện căn bản nhưng rất cần thiết để phát triển ngành du lịch đó là chỗ ăn, ở cho khách du lịch và đảm bảo giao thông thuận tiện. Ngoài ra, FLAG còn tìm cách phát triển nhiều dịch vụ khác mới lạ, độc đáo và được coi là điểm nhấn. Hầu hết các FLAG tại châu Âu đều đang trong quá trình thực hiện chiến lược khoanh vùng điểm nhấn tại khu vực họ quản lý.

Những điểm nhấn du lịch của từng vùng có thể là tài nguyên thiên nhiên, một loại thực vật hoặc động vật độc đáo; hoạt động giải trí, đặc biệt liên quan tới nước và thủy sản như câu cá, bơi, lặn biển, chèo thuyền; di sản như cảng cá, tàu thuyền hoặc các làng chài cổ hay một loại hình du lịch rất phổ biến hiện nay tại nhiều hòn đảo ở châu Âu như Pesca (mô hình du lịch do ngư dân chuyên nghiệp làm chủ). Những chiến lược FLAG thực hiện để thu hút khách du lịch phụ thuộc phần lớn vào danh tiếng của khu du lịch. Nếu khu du lịch đó chưa có tên tuổi, FLAG sẽ hỗ trợ đẩy mạnh các chiến dịch truyền thông, quảng cáo.

Mô hình hiệu quả

Hiện, đảo Sardinia tại Italia là một trong những khu vực dẫn đầu châu Âu trong phát triển du lịch gắn kết thủy sản thông qua mô hình PescaTour. Một hộ ngư dân cung cấp dịch vụ PercaTour tại Sardinia cho khách sẽ kiếm được 70 – 90 euro/người lớn và 50 euro/trẻ em dưới 10 tuổi. Ngư dân cho thuê tàu thuyền kèm hướng dẫn viên giúp du khách câu cá trên biển và tự thưởng thức thành quả bằng các bữa tiệc BBQ ngay trên thuyền.

Các trại nuôi thủy sản cũng được khuyến khích phát triển du lịch. Điển hình là trang trại nuôi cá ngừ của Công ty Balfefo ở châu thổ Ebro, đông bắc Tây Ban Nha. Năm 2012, Công ty này bắt đầu mở rộng sang hoạt động du lịch tận dụng ngay các sản phẩm của trại là cá ngừ để mở ra dịch vụ TunaTour. Qua TunaTour, du khách thỏa sức bơi cùng cá ngừ hoặc lặn biển quan sát đời sống của cá ngừ và thưởng thức cá ngừ tươi sống ngay tại trang trại với chi phí 47 euro/người lớn và 21 euro/trẻ em.

Mô hình du lịch này cũng được áp dụng tại trại nuôi nhuyễn thể Xavier Cabrera tại Ebro, Tây Ban Nha. Với quy mô 100 hệ thống nuôi trên biển, năng suất 3.000 tấn vẹm xanh cùng 1.000 tấn hàu mỗi năm, Xavier Cabrera cũng đã chào đón khách du lịch tới thăm quan mô hình qua dịch vụ ShellfishTour. Đây là chuyến dạo biển và khám phá hoạt động nuôi nhuyễn thể trên biển với chi phí 40 euro/khách du lịch, tặng kèm một kg vẹm, 4 con hàu và 1 chai rượu cùng hướng dẫn viên du lịch với nhiều ngôn ngữ khác nhau như tiếng Anh, Pháp và Nga.

Hài hòa lợi ích

Không thể phủ nhận tầm quan trọng của FLAG trong vai trò phát triển tiềm năng du lịch của từng vùng và tác động tích cực tới kinh tế địa phương. Tuy nhiên, ngành du lịch không chỉ mang lại lợi ích cho toàn vùng mà còn đặc biệt mang lại lợi ích cho ngành thủy sản, đây mới là điều quan trọng nhất nhằm mục đích hài hòa lợi ích giữa ngư dân trong vùng. Khi người ngư dân bị lạc lõng và không thu được lợi nhuận du lịch, họ sẽ có những phản ứng tiêu cực với việc phát triển ngành du lịch của toàn vùng, Stephanie Maes, Giám đốc FLAG tại Bỉ chia sẻ.

Trong các mô hình du lịch thủy sản do FLAG phát triển tại từng địa phương, ngư dân luôn là một mắt xích quan trọng không thể tách rời. Bằng những kỹ năng và trang thiết bị cụ thể, họ có thể cung cấp một số loại hình dịch vụ nhất định để phục vụ khác du lịch như trực tiếp làm hướng dẫn viên bờ biển, trèo thuyền ngắm thiên nhiên hoang dã, thưởng thức các món thủy sản do ngư dân địa phương khai thác. Một số FLAG khuyến khích ngư dân sử dụng tàu bè phục vụ khách du lịch PescaTour vào mùa hè bởi đây là tháng cao điểm du lịch. Khi đến mùa đông, lượng thủy hải sản phong phú hơn do có thời gian giãn khai thác vào mùa hè, nên ngư dân sẽ đạt sản lượng tốt hơn. Với chiến lược này, các FLAG không chỉ giúp ngư dân tăng thu nhập mà còn giúp ngành khai thác thủy sản đảm bảo bền vững.

(Theo Thủy sản Việt Nam)


【#2】Giải pháp nâng cao chất lượng thức ăn thủy sản

Chế độ dinh dưỡng tốt là nền tảng cho sự thành công và bền vững của nghề nuôi trồng thủy sản. Nâng cao chất lượng thức ăn, cần có những hiểu biết từ nhu cầu dinh dưỡng, lựa chọn nguyên liệu tốt nhất cho đến quy trình sản xuất thức ăn tối ưu…


Nhà máy sản xuất thức ăn thủy sản ở Stokmarknes, Na Uy Ảnh: SlandsviSolveig O. Landsvik

Xác định nhu cầu dinh dưỡng của động vật thủy sản

Nhu cầu dinh dưỡng là hàm lượng tối thiểu của các chất dinh dưỡng mà sinh vật cần để duy trì sinh trưởng, phát triển và sinh sản. Nhu cầu dinh dưỡng của động vật thủy sản không cố định mà tùy thuộc vào loài, giai đoạn phát triển, hình thức nuôi, thời gian nuôi, cụ thể:

Protein: Hàm lượng protein trong thức ăn thủy sản trong khoảng 18 – 20% đối với tôm biển, 28 – 32% cho cá da trơn, 22 – 30% đối với cá rô phi và cá hồi vân là 38 – 40%.

Lipid: Lipid bổ sung vào thức ăn có thể chia sẻ nhu cầu protein. Mức đề nghị lipid trong thức ăn lên đến 10%.

Khoáng: Chất khoáng là thành phần thiết yếu cho các enzyme, vitamin, hormone, sắc tố, của cơ thể. Nhu cầu khoáng khác nhau đối với từng đối tượng thủy sản, cụ thể: Nhu cầu Fe trong các loài cá khoảng 30 – 150 mg/kg thức ăn, Cu khoảng 3 – 5 mg/kg thức ăn, Zn dao động trong khoảng 15 – 30 mg/kg thức ăn và nhu cầu Mn 12 – 20 mg/kg thức ăn. Riêng cá da trơn, nhu cầu Mn khá thấp, chỉ 2,4 mg/kg thức ăn…

Vitamin: Trong thức ăn, vitamin chiếm một lượng rất nhỏ chỉ 1 – 2%, vì nguồn vitamin được cung cấp đáng kể từ thức ăn tự nhiên.

Chất bột đường (carbonhydrate): arbonhydrate bao gồm đường và tinh bột là nguồn năng lượng rẻ nhất trong thức ăn cho cá. Khoảng 20% tinh bột có thể phối chế trong khẩu phần thức ăn cho cá.

Lựa chọn nguyên liệu phù hợp

Dựa vào nhu cầu các chất dinh dưỡng để lựa chọn nguyên liệu sản xuất thức ăn phù hợp. Chất lượng nguyên liệu được xem là vấn đề quyết định trong thức ăn thủy sản. Nguyên liệu phải đáp ứng đủ hai điều kiện cơ bản là chất lượng và giá thành.

Bột cá là nguồn cung cấp protein tốt nhất cho động vật thủy sản. Bột cá có hàm lượng protein cao (hơn 60%) sẽ có màu nâu vàng đến vàng nhạt, vị mặn và mùi thơm lâu. Ngoài ra, còn có một số nguyên liệu khác như bột đầu tôm, bột thịt xương, bột huyết… Hiện, bột cá có giá thành khá cao, nguồn nguyên liệu này lại ngày càng khan hiếm. Vì vậy, biện pháp được đưa ra ở đây là nên phối chế thức ăn từ protein bằng bột động vật khác hoặc bột thực vật (bột đậu nành, bột hạt dầu cải, bột hạt bông vải…). Mức độ thay thế không nên quá 50%. Tuy nhiên, sử dụng các nguồn protein thực vật sẽ gặp phải một số trở ngại như: Độ tiêu hóa thấp, thường chứa các chất kháng dinh dưỡng và độc tố, không cân đối về acid amin, thường thiếu lysin và methionin, dẫn đến sinh trưởng và chất lượng đối tượng nuôi kém. Để khắc phục vấn đề trên, cần phải xử lý các nguồn nguyên liệu này trước khi đưa vào phối chế thức ăn, ngoài ra, bổ sung thêm acid amin tổng hợp, các acid béo thiết yếu, premix khoáng, vitamin.

Một nhóm nguyên liệu nữa được bổ sung vào thức ăn với nhiều mục đích như: Tăng giá trị dinh dưỡng, tăng tính ngon miệng, hạn chế sự biến chất thức ăn… Những chất này được gọi chung là chất phụ gia bao gồm: Chất kết dính, chất chống ôxy hóa, chất tạo mùi, chất dẫn dụ… Tùy từng đối tượng thủy sản mà lựa chọn hàm lượng phù hợp, tránh làm mất đi tác dụng vốn có ban đầu của chúng.

Thiết lập khẩu phần tối ưu và chế biến thức ăn

Chuẩn bị xong nguyên liệu đảm đảo nhu cầu dinh dưỡng, giai đoạn thiết lập khẩu phần là hoàn toàn quan trọng. Có một chuyên gia phụ trách việc phối chế công thức thức ăn phù hợp với nhu cầu, đảm bảo an toàn, vệ sinh thực phẩm, tăng thời gian bảo quản và hiệu quả sử dụng thức ăn là thực sự cần thiết. Tổng hợp tất cả những hiểu biết về dinh dưỡng như đã nêu ở trên sao cho có được khẩu phần thích hợp, cân đối, phải đủ thành phần dinh dưỡng theo yêu cầu của cơ thể, vừa có giá thành thấp mà hiệu quả lại cao, nguồn nguyên liệu sẵn có địa phương, có như vậy mới mang lại lợi nhuận cho người nuôi.

Sử dụng phần mềm tính toán khẩu phần (tính được công thức tối ưu về giá cả vốn rất khó giải quyết bằng phương pháp tính đơn giản) chuyên biệt thường được sử dụng như: Feedlive, UFFDA, Feedmania…

Hiện, phương pháp ép đùn được sử dụng rộng rãi trong quá trình chế biến thức ăn. Tuy nhiên, đối với phương pháp này nhiệt độ ép rất cao, khoảng 1200C trong thời gian ngắn (khoảng 20 giây) nên cần lưu ý về sự hư hao một số các vitamin hoặc dưỡng chất khác sau quá trình ép đùn để trước đó có những điều chỉnh phù hợp.

(Theo Thủy sản Việt Nam)


【#3】Kỹ thuật nuôi thương phẩm cá chiên trong lồng

Cá chiên là đối tượng thủy đặc sản quý hiếm có giá trị kinh tế cao, một trong số các loài cá được xếp vào “ngũ quý”. Chúng thường sống trong các sông suối thuộc các tỉnh phía Bắc và tập trung ở vùng trung, thượng lưu của các sông lớn, nơi có dòng nước chảy xiết.

Thường xuyên kiểm tra tình trạng của cá nuôi trong lồng   Ảnh: CTV

Thường xuyên kiểm tra tình trạng của cá nuôi trong lồng Ảnh: CTV

Vị trí neo lồng

Chọn nơi thông thoáng, ít tàu thuyền qua lại, có nguồn nước sạch không bị ô nhiễm bởi chất thải công nghiệp, nông nghiệp, nước thải sinh hoạt. Nước sâu từ 3 m trở lên, đáy lồng cách đáy ít nhất 0,5 m, lưu tốc dòng chảy 0,2 – 0,3 m/s, không nên nuôi ở nơi nước đứng. Môi trường nước phải đảm bảo các yếu tố sau: pH 6,5 – 8,5; ôxy hòa tan > 5 mg/lít; NH3 < 0,01 mg/lít; H2S < 0,01 mg/lít, nhiệt độ nước 20 – 330C. Vị trí đặt lồng phải thuận lợi về giao thông để tiện trong việc cung cấp con giống, thức ăn, chăm sóc, quản lý, thu hoạch và vận chuyển tiêu thụ sản phẩm.

Thiết kế lồng nuôi

Vật liệu: Toàn bộ khung lồng làm bằng ống thép phi 34 (hoặc phi 42, phi 49) có mạ lớp kẽm chống rỉ, mỗi cây dài 6 m và ống nối sắt phi 34.

Khung lồng: Khung lồng có kích thước 29 x31 m, gồm 2 dãy, mỗi dãy 5 ô để mắc lưới lồng nuôi, mỗi ô kích thước 7×9 m hoặc khung lồng có kích thước 18×18 m, gồm 3 dãy, mỗi dãy 3 ô để mắc lưới lồng nuôi, mỗi ô kích thước 5×5 m. Các ống thép phi 34, mỗi cây có chiều dài 6 m được nối thẳng với nhau bằng ống nối phi 34. Toàn bộ các tiếp sắt dọc và ngang được hàn gắn chặt với nhau tạo thành khung lồng.

Phao nâng lồng: Dùng tấm xốp có kích thước 50x60x90 cm, thùng phuy sắt hoặc phuy nhựa 200 lít. Để đảm bảo sức nổi của lồng, bố trí mỗi ô lồng từ 4 – 6 phao, phao được cố định vào khung lồng bằng dây thép.

Lồng lưới: Có dạng hình hộp lập phương hoặc hình chữ nhật có 1 mặt đáy, 4 mặt bên, mặt để hở gọi là miệng lồng. Lồng làm bằng lưới polyetylen (PE) dệt không co rút. Cỡ mắt lưới phụ thuộc vào kích cỡ cá lúc thả thường (2a) = 1 – 4 cm, trong một vụ nuôi thường sử dụng 3 loại mắt lưới: Ban đầu chọn mắt lưới có kích thước (2a) = 1cm, kích thước thứ 2: 2a = 2,5 cm, kích thước thứ 3: 2a = 4 cm, đáy lồng dùng bao cát thả bốn góc lồng. Trên các mặt của thành lồng có lớp lưới chắn cao 0,5 m để ngăn thức ăn trôi ra ngoài.

Lắp cụm lồng: Đặt các phi song song, khoảng cách các phao bằng khoảng cách lồng lưới. Dùng khung lồng đã hàn sẵn đặt lên phao, gắn phao vào khung lồng bằng dây thép. Lắp khung cụm lồng đặt trên bờ sau đó chuyển xuống nước để lắp lồng lưới. Trên cụm lồng lắp nhà bảo vệ diện tích bằng 1 – 2 ô lồng.

Chọn giống và thả giống


Cá giống phải khỏe mạnh, không dị hình, xây xát, kích cỡ đồng đều, không bị mất nhớt. Cá hoạt động linh hoạt, bơi lội nhanh nhẹn, kích cỡ 30 – 50 con/kg. Cá giống này đã được nuôi trong ao cho đến khi đạt kích thước trên mới đưa ra thả trong lồng.

Mật độ thả: Nuôi lồng trên hồ chứa thả 5 – 7 con/m3 lồng. Nuôi lồng trên sông thả 7 – 10 con/m3 lồng.

Mùa vụ thả giống: Tốt nhất nên thả giống nuôi vào tháng 4 khi nhiệt độ môi trường đã lên cao. Khi thả cá, cân bằng môi trường nước bằng cách ngâm bao chứa cá vào lồng nuôi trong thời gian 10 – 15 phút, sau đó cho nước từ từ vào miệng túi và tiến hành thả cá.

Cho ăn

Thức ăn là cá tươi băm nhỏ, kích cỡ phù hợp từng giai đoạn phát triển của cá. Giai đoạn cá 50 – 150 g/con cho ăn 2 lần/ngày với khẩu phần bằng 5 – 7% khối lượng thân. Giai đoạn cá > 150 g/con chỉ cần cho ăn 1 lần/ngày vào cuối buổi chiều. Khẩu phần cho ăn bằng 3 – 4% khối lượng thân. Hàng ngày, kiểm tra sàng ăn và hàng tháng kiểm tra tăng trọng cá để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp.

Quản lý lồng nuôi

Thường xuyên quan sát hoạt động của cá trong các lồng nuôi, tình hình sử dụng thức ăn và các hiện tượng bất thường khác xảy ra. Mỗi tuần vệ sinh lồng một lần, dùng bàn chải nhựa cọ sạch các cạnh bên lồng lưới. Việc vệ sinh lồng tiến hành trước khi cho cá ăn. Trong quá trình vệ sinh cần kiểm tra lồng, phát hiện kịp thời các vết rách, rạn nứt để kịp thời khắc phục nhằm hạn chế cá đi mất. Loại bỏ rác trôi nổi và các vật cứng vào khu bè nuôi. Vào mùa mưa lũ, phải kiểm tra cá dây neo, di chuyển lồng vào vị trí an toàn khi có bão, lũ.

Khi cá có các dấu hiệu bất thường như thay đổi màu sắc, kém ăn hoặc bỏ ăn, cá bị lồi mặt, lở loét… cần phải có biện pháp xử lý ngay.

Phòng trị bệnh

Bệnh nhiễm khuẩn

Nguyên nhân: Do nuôi cá với mật độ cao, chất lượng nước và thức ăn kém, cá bị xây xát do đánh bắt hoặc do ký sinh trùng bám.

Dấu hiệu bệnh: Mầm bệnh là các vi khuẩn (Aeromonas spp) thường xuyên có mặt trong nước, các chất thải từ cá và có thể từ nguồn thức ăn (cá tạp ôi…). Cá bị bệnh xuất hiện các vết loét và xuất huyết trên thân, xơ vây, lồi và loét mắt.

Phòng và trị: Cần tính toán mật độ thả cho phù hợp. Thường xuyên vệ sinh lồng lưới để đảm bảo cho sự lưu thông nước và tránh làm tổn thương cá trong quá trình thao tác. Quản lý thức ăn và môi trường nước nuôi. Khi phát hiện cá dấu hiệu bệnh cần loại bỏ những con bị bệnh nặng. Tắm cho cá bằng iodine sau khi dùng kháng sinh. Trộn kháng sinh vào thức ăn cho cá ăn liền trong 7 ngày.

Bệnh ký sinh trùng

Nguyên nhân: Do trùng bánh xe, sán, rận cá, bào tử trùng, đỉa…

Dấu hiệu: Cá bơi không định hướng, ngứa ngáy và hay cọ sát vào thành lồng. Cá chuyển màu sẫm, mang nhợt nhạt, da và mang có thể bị hoại tử, cá chết nhiều nếu không xử lý kịp và đặc biệt ở cá hương, cá giống.

Cách phòng và trị: Tắm cho cá bằng hóa chất CuSO4 (0,5 ppm) hoặc nước muối 3%. Khi xử lý cần chú ý cung cấp đủ ôxy hòa tan.

Bệnh nấm

Dấu hiệu bệnh: Cơ và các cơ quan bên trong có xuất hiện đám màu trắng, có thể nhìn thấy sợi. Bệnh ít gây chết nhưng làm mất giá trị của cá.

Cách phòng trị: Tránh gây tổn thương cho cá đặc biệt trong mùa lạnh. Loại bỏ cá bị nhiễm nặng. Xử lý bệnh bằng nước muối.

Thu hoạch

Sau 12 tháng khi cá đạt kích cỡ thương phẩm (1 – 1,5 kg/con) tiến hành thu tỉa, cá nhỏ hơn tiếp tục nuôi đến cuối vụ để đạt kích cỡ thương phẩm thì thu hoạch toàn bộ.

KS Nguyễn Văn Chung – Trung tâm Quốc gia Giống thủy sản nước ngọt miền Bắc


【#4】Thức ăn thủy sản: Siết chặt quản lý

Cùng với việc mở rộng các diện tích nuôi trồng thủy sản thì thị trường thức ăn cũng phát triển theo. Việc quản lý hiệu quả việc sản xuất, cung ứng và phân phối sản phẩm thức ăn thủy sản hiện là đòi hỏi cấp thiết. Mới đây, Chính phủ đã ban hành Nghị định 39/2017/NĐ-CP về quản lý thức ăn chăn nuôi, thủy sản, quy định về điều kiện kinh doanh, sử dụng, khảo nghiệm, chứng nhận, kiểm tra và quản lý nhà nước về thức ăn chăn nuôi, thủy sản thương mại.

Thức ăn chiếm tỷ lệ lớn chi phí đầu vào trong nuôi trồng thủy sản   Ảnh: Anvifish

Thức ăn chiếm tỷ lệ lớn chi phí đầu vào trong nuôi trồng thủy sản Ảnh: Anvifish

Vai trò thiết yếu

Thức ăn tốt giúp nâng cao hiệu quả kinh tế, cải thiện sức khỏe và tạo được sản phẩm nuôi trồng có giá trị cao. Trong nuôi trồng thủy sản, thức ăn có vai trò quan trọng, thường chiếm 40 – 70% chi phí sản xuất. Những năm gần đây, nghiên cứu về dinh dưỡng và thức ăn thủy sản đã có những bước tiến nhanh cả về chiều rộng và chiều sâu, nhiều loại thức ăn cân bằng dinh dưỡng và có khả năng nâng cao sức khỏe của thủy sản nuôi đã được nghiên cứu và áp dụng trong sản xuất…

Trước năm 1990, thức ăn cho thủy sản Việt Nam chủ yếu là cá tạp, phân bón cho ao hồ, thức ăn đơn lẻ như cám gạo… Thức ăn công nghiệp chỉ bắt đầu xuất hiện trong thập niên 90, với việc nhập khẩu thức ăn viên cho tôm sú nuôi công nghiệp. Việt Nam bắt đầu sản xuất thức ăn viên cho tôm năm 1996 và cho cá năm 1998. Năm 2005, cả nước có khoảng 23 nhà máy sản xuất thức ăn thủy sản; trong đó, 13 nhà máy sản xuất thức ăn viên cho tôm như Uni-President, C.P, Grobest…; sản lượng hàng năm thức ăn tôm khoảng 150.000 – 200.000 tấn. Về thức ăn cho cá, trên 15 nhà máy như Proconco, Cargill, Uni-President, Việt Thắng…; với tổng sản lượng khoảng 400.000 – 500.000 tấn  (Theo Hung, L.T. và H.P.Việt Huy 2006; FAO).

Đến năm 2013, cả nước có khoảng 130 nhà máy sản xuất thức ăn thủy sản, sản xuất trên 4.500 tấn sản phẩm và 110 cơ sở sản xuất thức ăn bổ sung với 311 sản phẩm được lưu hành, tổng sản lượng khoảng 3,7 triệu tấn/năm.

Quản lý thức ăn

Theo nghiên cứu của các chuyên gia, quản lý chất lượng thức ăn chăn nuôi (TĂCN), thức ăn thủy sản đang là những vấn đề rất quan trọng ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng, an toàn thực phẩm và môi trường trong chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản. Ước tính mỗi năm Việt Nam sử dụng khoảng trên 27 triệu tấn TĂCN, thủy sản các loại, trong đó có 17 – 18 triệu tấn TĂCN công nghiệp.

Nhờ có chủ trương và cơ chế chính sách hợp lý, tạo sức hấp dẫn cho thị trường TĂCN Việt Nam mà sau 20 năm từ khi có chính sách mở cửa thị trường, đã đưa Việt Nam từ nhóm nước lạc hậu về công nghiệp chế biến TĂCN trở thành nhóm nước phát triển nhất trong khu vực. Công nghệ và chất lượng TĂCN cũng không ngừng được cải thiện với giá cả cạnh tranh. Đây cũng là lĩnh vực thu hút đầu tư và hội nhập quốc tế rất cao, Việt Nam đã có mặt hầu hết những công ty, tập đoàn hàng đầu thế giới về năng lực sản xuất, kinh doanh TĂCN. Thị trường TĂCN Việt Nam đang là thị trường sôi động nhất trong khu vực, đã có trao đổi hàng hóa với 65 nước và vùng lãnh thổ với khối lượng hàng hóa trung bình 9 – 10 triệu tấn/năm, kim ngạch 4 – 4,5 tỷ USD.

Ông Trần Công Khôi, Phó vụ trưởng Vụ Nuôi trồng Thủy sản (Tổng cục Thủy sản) cho biết, công tác quản lý thức ăn thủy sản đã được đẩy mạnh và quản lý chặt chẽ trong việc đăng ký lưu hành sản phẩm của các cơ sở sản xuất kinh doanh; cùng đó là việc thanh, kiểm tra các cơ sở sản xuất, phân phối sản phẩm thức ăn thủy sản từ theo kế hoạch sang hình thức đột xuất; phối hợp với lực lượng Công an và các địa phương nhằm kịp thời phát hiện và xử lý những trường hợp vi phạm. Chính vì vậy, việc thực hiện các quy định về quản lý vật tư đầu vào (trong đó có thức ăn) thời gian qua cũng có nhiều chuyển biến đáng kể. Tuy nhiên, tình hình sản xuất và phân phối sản phẩm thức ăn thủy sản hiện cũng còn những bất cập nhất định như nhiều cơ sở, doanh nghiệp hoạt động kinh doanh nhỏ lẻ lại trên địa bàn rộng; trong khi lực lượng thanh, kiểm tra còn mỏng nên việc kiểm tra chưa thực hiện liên tục. Mặt khác, về phía các địa phương cũng còn hạn chế về nguồn lực và đầu tư nên công tác phát hiện, xử lý còn hạn chế…

Việc ra đời Nghị định 39 được đánh giá là có nhiều ý nghĩa trong quản lý sản xuất, kinh doanh TĂCN, thủy sản hiện nay và nhận được sự hưởng ứng của nhiều doanh nghiệp.

Nghị định này có nhiều điểm mới so với Nghị định số 08/2010/NĐ-CP ngày 5/2/2010 của chính phủ.

Tại Nghị định 39, Chính phủ sẽ ưu tiên đầu tư và khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển, sản xuất, khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn nguyên liệu thức ăn thủy sản trong nước và các chính sách khác, trong đó có việc dành thêm quỹ đất và tín dụng ưu đãi cho việc trồng, thu hoạch, bảo quản, sản xuất, gia công, chế biến nguồn nguyên liệu thức ăn thủy sản trong nước. Cùng đó, đầu tư và xã hội hóa đầu tư nâng cao năng lực hoạt động thử nghiệm, chứng nhận sự phù hợp phục vụ công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát chất lượng thức ăn thủy sản. Đối với việc quản lý TĂCN chứa kháng sinh, Nghị định đã quy định không sử dụng kháng sinh trong thức ăn thủy sản.

TĂCN thủy sản được phép lưu hành tại Việt Nam là TĂCN, thủy sản được Bộ NN&PTNT xác nhận phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng (nếu có), được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ NN&PTNT. Và phải đáp ứng các yêu cầu như: Phải công bố tiêu chuẩn áp dụng theo quy định của pháp luật về xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn và có chất lượng phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng. Phải công bố hợp quy theo quy định tại quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng (nếu có). Mỗi sản phẩm TĂCN, thủy sản có một tiêu chuẩn chất lượng được công bố chỉ được đặt một tên thương mại tương ứng.

Về cơ quan kiểm tra chất lượng thức ăn xuất, nhập khẩu là cơ quan chức năng nhà nước và tổ chức được Bộ NN&PTNT chỉ định là tổ chức chứng nhận sự phù hợp chất lượng TĂCN, thủy sản xuất khẩu, nhập khẩu.

Theo Thủy sản Việt Nam


【#5】Tôm thẻ chân trắng kết hợp cá điêu hồng

Nghiên cứu này được thực hiện tại tỉnh Nam Định, nhằm đánh giá tác động cũng như tìm ra giải pháp thích hợp để thích ứng với tình hình biến đổi khí hậu như hiện nay.

Nuôi TTCT kết hợp cá diêu hồng cho hiệu quả bền vững   Ảnh: CTV

Nuôi TTCT kết hợp cá diêu hồng cho hiệu quả bền vững Ảnh: CTV

Tổng quan về mô hình

Cá điêu hồng (Oreochromis sp.) là loài ăn tạp, chúng có thể ăn cả thực vật, động vật thủy sinh, động vật đáy, mùn bã hữu cơ trong ao nuôi và thậm chí cả chất thải của đối tượng nuôi khác. Tôm thẻ chân trắng là đối tượng nuôi có nhiều triển vọng và phát triển nhanh không chỉ ở Việt Nam mà ở các nước có nghề nuôi tôm trên thế giới. Nuôi tôm thẻ chân trắng kết hợp với cá điêu hồng sẽ giảm thiểu vi khuẩn gây bệnh như AHPND/EMS (acute hepatopancreatic necrosis disease/Early Mortality Syndrome) (SalgueroGonzálezet al., 2016).

Mô hình được thực hiện tại xã Giao Phong, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định là một trong những địa phương chịu nhiều ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trong vùng: như hiện tượng xâm thực mặn, ngọt hóa một số thời điểm, một số vùng. Vì vậy, sự phù hợp của mô hình được xem là giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu trong nuôi trồng thủy sản ở vùng duyên hải.

Quy trình kỹ thuật

Chuẩn bị ao nuôi:

Tiến hành tát cạn ao, sử dụng chế phẩm vi sinh để xử lý bùn đen ở đáy ao, phơi đáy 10 – 15 ngày, cày xới đáy ao để loại bỏ khí độc NH3, H2S. Bón vôi cải tạo đáy và bờ ao, nhằm diệt tạp, nâng cao pH, tăng khả năng đệm của nước ao nuôi, phơi đáy ao 3 ngày. Ao có diện tích 2.000 – 2.500 m2 là phù hợp.

Chọn giống: Chọn tôm và cá giống khỏe mạnh, nguồn gốc rõ ràng, cá không bị xây xước, dị tật dị hình… Tôm thẻ chân trắng cỡ 2 – 3 cm/con, cá điêu hồng trọng lượng 5 + 0,35 g.

Mật độ nuôi: Thả tôm chân trắng với mật độ 100 con/m2. Tôm giống trước khi thả ra ao nuôi được thuần hóa về nước ngọt trên các bể ương 7 – 10 ngày. Cá điêu hồng với mât độ 2 con/m2.

Môi trường: Ở thời điểm thả tôm giống, nước ao có nhiệt độ dao động 22 – 250C, với ao nước ngọt có độ mặn 0 – 0,5‰, ao nước lợ có độ mặn 5 – 10‰. Ôxy hòa tan được cung cấp bổ sung bằng cách bật quạt nước, mỗi ao nuôi được lắp đặt 2 hệ thống quạt 6 cánh ngay từ tháng nuôi thứ 2. Hàng ngày quạt nước thường được bật ngay từ 21 giờ đêm cho đến 6 giờ sáng hôm sau, trong những ngày thời tiết thay đổi quạt còn được bật ngay cả ban ngày vừa để cung cấp ôxy hòa tan vừa thoát khí độc ra khỏi ao nuôi.

Thức ăn: Thức ăn được dùng cho cá điêu hồng là thức ăn viên nổi có hàm lượng đạm 30 – 35%. Một điểm khác biệt ở đây là tôm thẻ chân trắng trong mô hình được cho ăn thức ăn vịt đẻ hàm lượng đạm 18 – 19% (thức ăn có hàm lượng đạm ít hơn so với các mô hình thông thường).

Cho ăn: Hàng ngày cho ăn 2 lần vào 8 – 9 giờ sáng và 4 – 5 giờ chiều.

Chăm sóc: Sử dụng chế phẩm vi sinh có chứa các chủng loại vi khuẩn có lợi như Bacillus sp., Notrosomonas sp., Nitrobacter sp. Bổ sung 1 lần/tháng trong 2 tháng nuôi đầu và 1 lần/2 tuần trong tháng nuôi cuối. Ngoài ra, cũng cần định kỳ bổ sung mật  rỉ đường. Do nhu cầu độ kiềm cao của tôm thẻ chân trắng khi nuôi trong nước ngọt nhằm tránh hiện tượng mềm vỏ nên sử dụng Dolomite được bón định kỳ 2 lần/tháng.

Trong quá trình nuôi thường xuyên kiểm tra các yếu tố môi trường như pH, nhiệt độ, ôxy hòa tan được đo 2 lần/ngày vào 6 giờ sáng và 2 giờ chiều, các yếu tố khác như độ mặn, N-NO2, NH2, được đo 1 lần/tuần. Tốc độ sinh trưởng của cá, tôm được kiểm tra định kỳ 1 lần/2 tuần để kịp điều chỉnh lượng thức ăn. Thời tiết nắng nóng chú ý bật quạt nước đều và nâng mức nước lên vào những ngày lạnh.

Thu hoạch và kết quả

Nuôi cá trong vòng 6 tháng đạt cỡ > 800 g/con, nuôi tôm chung với cá trong vòng 3 tháng (một vụ cá kết hợp 2 vụ tôm) đạt cỡ 40 – 60 con/kg, trong khi đó nuôi hoàn toàn tôm thẻ chân trắng cùng thời gian, cho kết quả đạt 60 – 80 con/kg.  Mặc dù, ở mô hình nuôi tôm kết hợp cá diêu hồng này đã sử dụng thức ăn thấp đạm (sử dụng thức ăn nuôi vịt đẻ), cho thấy đây là ảnh hưởng tích cực của việc kết hợp giữa cá điêu hồng với tôm thẻ chân trắng, đã tạo môi trường sinh thái thích hợp cho tôm phát triển, hơn nữa, thức ăn có hàm lượng đạm thấp nhằm mục đích sử dụng triệt để nguồn dinh dưỡng trong ao nuôi, tạo điều kiện cho vi sinh vật có lợi phát triển.

Trong quá trình nuôi, tôm nuôi không bị dịch bệnh hoại tử gan tụy cấp, giảm chi phí thuốc và hóa chất của mô hình lên tới 30% và mang lại hiệu quả kinh tế tăng đến hơn 2,8 lần. Với mô hình này đã đem lại hiệu quả kinh tế 124 – 126 triệu đồng/1.000 m2 ao nuôi.

Tuy nhiên, trong mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng kết hợp với cá điêu hồng cũng xuất hiện một số hạn chế cần khắc phục như: Tôm hay bị bệnh mềm vỏ do nước ngọt thường có độ kiềm thấp nên cần tăng cường bổ sung Dolomit cho ao nuôi; chất lượng cá điêu hồng giống thường bị hạn chế về màu sắc và gặp khó khăn trong việc tìm con giống sớm do ảnh hưởng của không khí lạnh khu vực phía Bắc; các hộ nuôi thường thu cá thương phẩm đồng loạt do ảnh hưởng của mùa vụ khi thu hoạch nên phần nào đã bị tác động của thị trường tiêu thụ (cung vượt cầu). Từ đó khiến giá bán không ổn định, thu nhập của người nuôi bấp bênh.

(Theo Thủy sản Việt Nam)


【#6】Sóc Trăng: Khá lên nhờ tôm – lúa

Xã Hòa Tú 1 ở vùng đất 6 tháng mặn – ngọt nối nhau, hồi nào thuộc loại nghèo nhất huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng, đường đến đó đò giang trắc trở; nhờ tôm – lúa mà khá lên rất nhiều. Phó Chủ tịch UBND xã Trương Hoàng Khai cho biết, từ ngày mở ra nuôi tôm đời sống của người dân mới đỡ vất vả hơn trước.

 Mô hình tôm - lúa thích hợp để mang lại hiệu quả cao

Mô hình tôm – lúa thích hợp để mang lại hiệu quả cao

Hiện nay, gia đình ông Khai vẫn sản xuất tôm – lúa với 2 ha, riêng nuôi tôm cả sú lẫn thẻ chân trắng một năm lời hơn 100 triệu đồng. Diện tích đất tự nhiên của xã 3.156 ha. Trong đó, diện tích nuôi tôm năm 2016 là 2.896 ha, hầu hết nuôi tôm thẻ chân trắng quảng canh cải tiến thả mật độ gần 30 con/m2, thu 7.467 tấn. Có 1.585 ha ruộng cạn, sau nuôi tôm là sạ lúa (1.432 ha lúa đặc sản), năng suất bình quân 6,5 tấn/ha, tổng sản lượng 10.302 tấn.

Ở ấp Hòa Đê đã ra đời HTX Nông ngư Hòa Đê có 61 thành viên với 73 ha tôm – lúa, sản xuất theo tiêu chuẩn sạch: không dùng hóa chất, kháng sinh. Giám đốc Mã Văn Hồng giới thiệu, các thành viên tuyệt đối không dùng hóa chất và kháng sinh từ năm 2013, chỉ sử dụng men vi sinh và khi tôm nhiễm bệnh thì dùng tỏi để trị. Mùa khô nuôi tôm và cá, còn mùa mưa làm lúa cũng không sử dụng thuốc hóa học, không cả cày bừa đáy ao.

Giám đốc Hồng mở sổ đọc kết quả sản xuất của HTX trong năm 2016. Tổng diện tích 73 ha: nuôi tôm thẻ chân trắng 45 ha, tôm sú 18 ha, và vụ lúa sạ 29 ha. Nuôi tôm thẻ chân trắng thả giống mật độ dưới 30 con/m2, nuôi 2 vụ thu 76,8 tấn; tôm sú thả mật độ 10 – 13 con/m2, nuôi một vụ thu 13 tấn. Lúa thu 188 tấn. Tất cả đều có lời, cả năm lời khoảng 2,7 tỷ đồng. Chưa kể các loại cá nuôi xen trong ao và rau màu trồng trên bờ thu cũng khá. Riêng ông Hồng có 2,7 ha tôm – lúa, thu 3 tấn tôm, 7 tấn lúa, lời 230 triệu đồng “đủ nuôi hai đứa con đi học và lo cửa nhà”.

Trong năm 2016, thành viên HTX thu lời cao nhất là vợ chồng ông Trần Văn Chính, gần 70 tuổi. Với 3,2 ha, vợ chồng ông thu được 4,2 tấn tôm, 8,5 tấn lúa; tổng lời 250 triệu đồng.

Để đi tới việc sản xuất khá ổn định hiện nay, bà con trải qua quá trình dài phấn đấu. Từ các hộ chí thú làm ăn tích lũy kinh nghiệm, năm 2009, họ thành lập tổ hợp tác có 16 thành viên với 28 ha tôm – lúa. Dần dần phát triển cả về kỹ thuật và quy mô để HTX ra đời hai năm nay.

Trưởng phòng NN&PTNT huyện Mỹ Xuyên, ông Trần Quốc Quang cho biết, khi bà con rành sản xuất không kháng sinh thì huyện hỗ trợ kết nối với các doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm. Nhờ thế, năm nay, HTX ký được hợp đồng để Công ty Thủy sản Sạch bao tiêu tôm với giá cao hơn thị trường 5.000 – 7.000 đồng/kg.

Xã nghèo vùng sâu đi lên nông thôn mới là quá trình thay da đổi thịt không ngừng như cuộc sinh nở trải nhiều vật vã mà kỳ diệu. Bí thư xã Trần Tấn Nhanh vui vẻ: “Trước đây, nhà ngoảnh mặt xuống sông, nay có đường bê tông khang trang nên phải quay nhà ngược lên. Đường bê tông cho xe hai bánh đã lạc hậu với sự phát triển, sản xuất tôm – lúa đang đòi hỏi đường rộng hơn, ít nhất cho xe tải nhẹ thông thương hàng hóa. Đầu năm nay xã đã đầu tư mấy tỷ đồng mở rộng 4 con đường, một số con đường khác được quy hoạch cắm mốc, có vốn là mở mang đáp ứng nhu cầu phát triển.

Nguồn: Theo Thủy sản Việt Nam


【#7】Bình Định: Tuy Phước thắng lợi từ tôm

Tại những vùng nuôi tôm ở thôn Đông Điền, xã Phước Thắng và thôn Vinh Quang 2, xã Phước Sơn, huyện Tuy Phước, tình hình nuôi trồng của người dân có nhiều dấu hiệu tích cực. Với sản lượng thu hoạch tôm toàn huyện trong vụ 1 năm 2017 đạt 771 tấn, năng suất bình quân 8 tạ/ha.

sản lượng thu hoạch tôm toàn huyện trong vụ 1 năm 2017 đạt 771 tấn

Sản lượng thu hoạch tôm toàn huyện trong vụ 1 năm 2017 đạt 771 tấn

Ông Phan Văn Chạy, thôn Đông Điền, xã Phước Thắng một trong những hộ nuôi tôm đạt khá cho biết, ông vừa thu hoạch xong gần 1 ha ao nuôi tôm, cho năng suất đạt 4,5 tấn tôm thẻ chân trắng, bán được gần 500 triệu đồng. Sau khi trừ mọi chi phí còn lãi 300 triệu đồng. Đây là vụ tôm trúng lớn nhất từ trong 10 năm trở lại đây của gia đình ông. Ông Phạm Quang Ân, Phó Phòng NN&PTNT huyện Tuy Phước chia sẻ, trong vụ 1, toàn huyện có trên 971 ha mặt nước đưa vào nuôi tôm, trong đó có 100 ha nuôi theo phương thức bán thâm canh, còn lại nuôi quảng canh cải tiến, đánh tỉa thả bù.

Đến thời điểm này, bà con đã thu hoạch trên 95% diện tích. Vụ tôm năm nay trúng lớn là nhờ người nuôi tuân thủ chặt chẽ các giải pháp kỹ thuật và lịch thời vụ thả tôm của ngành nông nghiệp tỉnh. Tại các vùng nuôi tôm tập trung, các điều kiện về cơ sở hạ tầng, hệ thống thủy lợi được đầu tư xây dựng khá hoàn chỉnh, đáp ứng được yêu cầu nuôi tôm tại địa phương. Mô hình nuôi tôm cộng đồng cũng được người dân thực hiện đồng bộ, hiệu quả. Tại hầu hết các vùng nuôi tôm bán thâm canh, quảng canh cải tiến trên địa bàn huyện đều thành lập các tổ, chi hội nuôi tôm cộng đồng với mục đích hợp tác, hỗ trợ nhau về vốn và kinh nghiệm, cùng nhau bảo vệ môi trường, ngăn ngừa, xử lý dịch bệnh.

Nguồn: Theo Thủy sản Việt Nam


【#8】Thiết bị nhận dạng (AIS)

hiết bị nhận dạng (AIS) lắp đặt trên tàu cá giúp ngư dân sớm phát hiện các phương tiện khác ở khoảng cách xa, góp phần tránh va chạm, tai nạn trên biển. Sản phẩm này được nhiều ngư dân sử dụng trên tàu cá nhằm đạt hiệu quả khai thác cao hơn.

Thiết bị nhận dạng (AIS: Automatic Identify System) là một hệ thống thông tin an toàn hàng hải hoạt động trên băng tần VHF hàng hải. Những phương tiện thủy có gắn thiết bị nhận dạng (AIS) có thể chủ động chia sẻ các thông tin của mình với các phương tiện, Đài thông tin duyên hải hoạt động trong khu vực lân cận, các trạm VTS (hệ thống quản lý lưu lượng tàu thuyền trên các luồng và vùng biển) và cơ quan quản lý hàng hải. Thiết bị nhận dạng (AIS) trang bị trên tàu thuyền có chức năng tự động phát tới các tàu khác và tới Đài Thông tin duyên hải các thông tin của tàu mình bao gồm: Thông tin cố định (số nhận dạng hàng hải, số IMO, số hiệu và tên tàu, kích thước của tàu); Thông tin động (tọa độ vị trí tàu, hướng và tốc độ di chuyển, tốc độ quay trở tức thời); Dữ liệu về hành trình (đích đến, dự kiến thời gian đến đích, mớn nước, loại hàng hóa).

Thiết bị nhận dạng (AIS) lắp đặt trên tàu cá giúp ngư dân khai thác hiệu quả

Thiết bị nhận dạng (AIS) lắp đặt trên tàu cá giúp ngư dân khai thác hiệu quả

Thiết bị nhận dạng (AIS) cho phép giám sát từ xa vị trí, hải trình tàu trên giao diện website với các tính năng chính: Xem online vị trí tàu trên nền bản đồ Google map; Xem hành trình tàu trong quá khứ; Tra cứu vị trí, hành trình tàu trong vòng 30 ngày; Tra cứu thông tin chi tiết tàu; Biết được tình hình thời tiết tại khu vực tàu hành trình.

Chức năng của thiết bị nhận dạng (AIS)

Thiết bị nhận dạng (AIS) trang bị trên tàu thuyền có chức năng tự động phát tới các tàu khác và tới Đài Thông tin duyên hải các thông tin của tàu bao gồm:

– Thông tin cố định, như số nhận dạng hàng hải (MMSI), số IMO, số hiệu và tên tàu; các kích thước chiều dài, chiều rộng… của tàu (các thông số này được cài đặt cố định cho thiết bị nhận dạng (AIS) trên mỗi con tàu tại thời điểm trang bị).

– Thông tin động, bao gồm tọa độ vị trí tàu, hướng và tốc độ di chuyển, tốc độ quay trở tức thời (các thông số này được thiết bị nhận dạng (AIS) thu thập từ các thiết bị hàng hải khác như máy định vị toàn cầu GPS, la bàn điện, tốc độ kế…).

– Dữ liệu về hành trình: Đích đến, dự kiến thời gian đến đích ETA, mớn nước, loại hàng hóa, thông tin an toàn (do người sử dụng trên tàu nhập vào trước mỗi hành trình).

– Báo hiệu hàng hải thiết bị nhận dạng (AIS) là trạm AIS đặc biệt được thiết lập nhằm chủ động cung cấp thông tin: tên báo hiệu, loại báo hiệu, chức năng báo hiệu (cài đặt sẵn), tọa độ vị trí (thu nhận từ GPS), trạng thái hoạt động của thiết bị đèn, ắc quy, thông tin khí tượng thủy văn… (thu nhận từ các cảm biến thích hợp) đến các phương tiện đang hoạt động trong khu vực và Đài Thông tin duyên hải của nhà quản lý.

Một số tính năng cơ bản của AIS

– Hiển thị trên màn hình thiết bị AIS kết hợp với hải đồ điện tử ENC giúp tàu thuyền định vị và định hướng hành hải chính xác trong mọi điều kiện thời tiết.

– Cung cấp cho người đi biển các thông tin chi tiết về báo hiệu hàng hải (tên báo hiệu, vị trí chính xác của báo hiệu, các thông tin về điều kiện thủy hải văn tại báo hiệu…) một cách trực tiếp, liên tục.

– Giúp người quản lý phát hiện nhanh chóng sự sai lệch vị trí và một số đặc tính khác của các báo hiệu nổi.

– Cho phép thiết lập các báo hiệu giả đối với các báo hiệu hàng hải thực không được lắp báo hiệu thiết bị nhận dạng (AIS) và các báo hiệu giả trong điều kiện chưa cho phép thiết lập các báo hiệu thực.

– Có khả năng lưu trữ một lượng thông tin rất lớn về quá trình hoạt động hàng hải của tàu thuyền trong khu vực và có thể hiển thị lại khi có yêu cầu (tên tàu, số nhận dạng MMSI, tốc độ và hướng hành trình, điểm xuất phát, điểm đến tiếp theo, loại hàng hóa vận chuyển, danh sách và trích ngang thuyền viên, vết tàu hành trình…), kết nối với hệ thống VTS phục vụ tốt cho công tác quản lý cảng và tìm kiếm cứu nạn.

– Kết nối internet để chia sẻ thông tin về an toàn hàng hải giữa các cơ quan chức năng có liên quan trong nước và quốc tế.

Để có những chuyến ra khơi được an toàn, các chủ phương tiện trên biển nói chung và tàu đánh bắt hải sản nói riêng nên trang bị thiết bị tự động nhận dạng AIS cho phương tiện của mình. Đây là một trong những thiết bị thực sự hữu ích, góp phần bảo vệ con người và tài sản khi hoạt động trên biển.

Theo Thủy sản Việt Nam


【#9】Quy trình sản xuất cá ngạnh

Quy trình sản xuất cá ngạnh dưới đây được xây dựng dựa trên kết quả nghiên cứu Đề tài “Thử nghiệm sinh sản cá ngạnh Cranoglanis bouderius (Richardson, 1846) trong điều kiện nhân tạo” của ThS Nguyễn Đình Vinh, ThS Tạ Thị Bình (Khoa Nông – Lâm ngư, Trường ĐH Vinh) cùng PGS.TS Nguyễn Hữu Dực (Khoa Sinh học, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội) và TS Nguyễn Kiêm Sơn (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật).

Trên thế giới, một số nước đã sản xuất được giống cá ngạnh   Ảnh: farmflavor.com

Trên thế giới, một số nước đã sản xuất được giống cá ngạnh Ảnh: farmflavor.com

1. Chọn cá bố mẹ

Với cá cái: Có khối lượng 1,2 – 1,5 kg/con, ngoại hình phát triển cân đối, không bị dị tật, không có biểu hiện mắc bệnh. Cá có bụng tròn mềm, mặt bụng có màu phớt hồng, mẩu sinh dục sưng tấy có màu đỏ, thăm trứng cho kết quả trứng đã tách rời, màu xanh ngọc.

Với cá đực: Ngoại hình phát triển cân đối, không có dị tật, không có biểu hiện mắc bệnh, có khối lượng 0,8 – 1 kg/con. Quan sát dấu hiệu tuyến sinh dục ngoài: cá có bụng căng tròn, gai sinh dục sưng to, màu hồng đỏ để cho sinh sản. Tỷ lệ đực cái là 1:1.

2. Nuôi vỗ cá bố mẹ

Điều kiện nuôi vỗ: Nuôi vỗ trong lồng trên sông, kích thước (2,5×1,5×1,3) m. Độ sâu nước nơi đặt lồng >1,5 m. Lồng nuôi được neo cố định. Mặt lồng cao hơn mực nước sông 0,3÷- 0,5 m. Lồng bè đặt tránh nơi có luồng nước ngầm, xói lở, bồi tụ, có quá nhiều phù sa. Nước sông nơi đặt lồng bè không bị ảnh hưởng trực tiếp của các nguồn nước thải công nghiệp và nguồn nước ô nhiễm khác. Nhiệt độ nước trong thời gian nuôi vỗ dao động 22 – 320C; pH 7,4 – 8,5.

3. Chăm sóc và quản lý cá bố mẹ

Cho cá bố mẹ ăn 1 lần/ngày, vào chiều tối. Khối lượng thức ăn cung cấp bằng khoảng 3÷- 5% khối lượng cá. Theo dõi hoạt động bắt mồi của cá để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp. Sử dụng 100% thức ăn công nghiệp có hàm lượng protein 40%. Hàng ngày, quan sát hoạt động của cá bố mẹ, theo dõi các yếu tố môi trường nước (nhiệt độ, pH) và thường xuyên vệ sinh lồng nuôi.

4. Kích dục tố và phương pháp tiêm

Loại kích dục tố và liều lượng: Sử dụng phối hợp kích dục tố gồm LRH-A (Luteotropin Releasing Hormoned Analog) và Dom – Motilium với liều lượng ( 30 µg LRH-A + 9 mg DOM)/kg cá cái hoặc sử dụng HCG với liều lượng 2.500 IU HCG/kg cá cái để kích thích sinh sản cá ngạnh. Liều lượng tiêm cho cá đực bằng 1/3 liều dùng cho cá cái.

Phương pháp tiêm: Đối với cá cái, tiêm 2 lần (1 liều sơ bộ, 1 liều quyết định), liều sơ bộ bằng 1/3 tổng liều, liều quyết định bằng 2/3 tổng liều, tiêm vào cơ lưng, khoảng cách giữa 2 lần tiêm là 24 giờ; đối với cá đực tiêm 1 lần vào cơ lưng, liều tiêm bằng 1/3 tổng liều. Nhiệt độ nước tại thời điểm tiêm kích dục tố cho cá trong khoảng 25 – 300C.

5. Thụ tinh và ấp trứng

Phương pháp thụ tinh thô

Chuẩn bị dụng cụ: Dụng cụ phục vụ cho đẻ vuốt cá gồm: chậu men, nước sạch, bát sứ sạch khô, dụng cụ giải phẫu, cối chày sứ, khăn bông và bể ấp trứng có sục khí. Sau khi tiêm kích dục tố cho cá đực và cá cái, kiểm tra bằng cách vuốt nhẹ vào bụng cá cái, gần lỗ sinh dục thấy trứng chảy ra từ lỗ sinh dục thì tiến hành thụ tinh cho trứng.

Với cá cái, trứng được vuốt vào bát men khô sau đó dùng tuyến sinh dục của cá đực đã được cắt nhỏ nghiền nát trong cối sứ để trộn vào với trứng (khi cá bắt đầu rụng trứng, tiến hành vuốt trứng và mổ cá đực lấy tuyến sinh dục, dùng kéo cắt nhỏ, công việc này được tiến hành song song), dùng lông gà đảo đều trứng khoảng 1 – 2 phút cho trứng được thụ tinh. Trứng được rửa bằng nước sạch sau đó đưa vào dụng cụ ấp nở.

Phương pháp cho cá đẻ tự nhiên

Sau khi cá đực và cá cái được tiêm kích dục tố, cho cá đực và cá cái đẻ tự nhiên trong bể composite kích thước 2 m3, trứng tự thụ tinh. Tuy nhiên, hình thức thụ tinh khô cho kết quả tốt hơn trong sản xuất giống cá ngạnh.

Phương pháp ấp trứng

Ấp trong thùng xốp có sục khí. Kích thước thùng xốp (0,4×0,3×0,3) m. Sục khí thường xuyên để đảm bảo DO > 4 mg/lít. Mật độ ấp trứng: 9 – 12 trứng/cm2. Trong quá trình ấp phải đảm bảo nước sạch. Lưu tốc nước được chỉnh bằng van khoảng 0,2 lít/giây sao cho trứng được đảo nhẹ nhàng. Nhiệt độ duy trì trong quá trình ấp 28 – 300C. Trong quá trình ấp thường xuyên theo dõi trứng trong thùng loại bỏ trứng hỏng tránh hiện tượng nấm phát triển trên trứng hỏng lây sang trứng có chất lượng tốt.

6. Ương cá bột lên cá hương

Ương trong bể composite kích thước (1x1x1) m. Thời gian ương nuôi là 28 ngày, mật độ ương là 500 con/m2.

Môi trường nước bể trong quá trình phải đảm bảo các điều kiện sau: Nhiệt độ 25 – 300C, pH 7 – 8. Hàm lượng ôxy hòa tan > 3 mg/lít. Thức ăn: Hàng ngày vớt Daphnia, Monia cho cá ăn với mật độ cá thể 100.000 cá thể/lít.  Sau 2 – 3 ngày ương (3 – 4 ngày tuổi), cho cá ăn bổ sung thêm thức ăn chế biến (70% bột cá nhạt  + 20% lòng đỏ trứng), từ ngày thứ  10 trở đi kết hợp cho ăn giun quế. Cho cá ăn 2 lần/ngày, buổi sáng cho cá ăn lúc 5 – 6 h và buổi chiều cho cá ăn lúc 17 – 18 h.

Vận hành hệ thống ương: Thường xuyên kiểm tra hệ thống cấp nước và sục khí  đảm bảo vận hành liên tục trong quá trình ương. Xi phông bể trước hàng này để loại bỏ thức ăn dư, các chất bẩn lắng đọng và xác cá chết. Thường xuyên kiểm tra tình hình hoạt động và mức ăn của cá, chất lượng nước để kịp thời điều chỉnh.

7. Ương cá hương lên cá giống

Cá hương 30 ngày tuổi được ương trong bể composite kích thước từ (1x1x1) m, có hệ thống cấp nước và sục khí đảm bảo vận hành liên tục trong quá trình ương.

Trong thời gian ương nuôi thường xuyên vệ sinh bể nuôi, duy trì chế độ sục khí trong bể. Môi  trường nước bể trong quá trình ương đảm bảo các chỉ tiêu sau:  nhiệt độ 25 – 300C, pH 7 – 8. Hàm lượng ôxy hòa tan > 3 mg/lít. Sử dụng giun quế làm thức ăn, lượng cho ăn hàng ngày 5 – 7% khối lượng cá. Khi cho ăn, thức ăn phải rải đều xung quanh thành bể, để cá có thể  tiếp cận dễ dàng. Cho ăn mỗi ngày 2 lần, sáng 6 – 7h chiều 16 – 17h hàng ngày.

Nguồn: Theo Thủy sản Việt Nam


【#10】Quảng Ninh: Nhiều giải pháp phát triển thủy sản

Tỉnh Quảng Ninh đã và đang dành rất nhiều sự quan tâm cho phát triển thủy sản. Mục tiêu để lĩnh vực này không chỉ là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, mà còn là “vựa” thủy sản phía Bắc.

Thủy sản là thế mạnh của Quảng Ninh   Ảnh: Huy Hùng

Thủy sản là thế mạnh của Quảng Ninh Ảnh: Huy Hùng

Nghị quyết đã có

Theo nhận định, hiện thủy sản Quảng Ninh đứng thứ 4/11 tỉnh, thành khu vực sông Hồng có sản lượng nuôi trồng thủy sản hàng năm cao. Tuy nhiên, với những hợp tác hiện nay và chương trình hành động trong thời gian tới, vị trí này chắc chắn sẽ có những biến đổi mạnh.

Lãnh đạo Sở NN&PTNT Quảng Ninh cho biết, tỉnh đang tập trung phát triển diện tích nuôi trồng thủy sản. Tính đến cuối năm 2016, diện tích nuôi toàn tỉnh 20.600 ha (17.300 ha diện tích nuôi mặn lợ, 3.300 ha nuôi nước ngọt), tăng 567 ha so năm 2014, trong đó nuôi thâm canh 2.034 ha; Sản lượng 46.287 tấn, tăng 9,9% so năm 2014. Trong 5 năm, sản lượng thủy sản nuôi trồng 183.000 tấn, bình quân tăng 9,1%/năm.

Triển khai Nghị quyết 13 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh, Quảng Ninh đã hỗ trợ hình thành các vùng nuôi, bãi triều tập trung tại Vân Đồn, Đầm Hà, Hải Hà, Quảng Yên; tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án tái cơ cấu ngành; dành nguồn lực xây dựng hạ tầng nuôi trồng thủy sản… Cùng đó, phát triển vùng nuôi trồng theo quy hoạch, ứng dụng công nghệ cao, vùng nuôi an toàn với các đối tượng chủ lực, đặc biệt là nuôi biển. Trong đó, chú trọng khâu giống thủy sản nhằm tạo bước đột phá, hình thành các trung tâm giống công nghệ cao, hướng tới chủ động nhu cầu các đối tượng nuôi chủ lực của tỉnh.

Hình thành vùng nuôi tập trung

Với gần 100.000 ha mặt nước và bãi triều có thể nuôi trồng thủy sản, tuy nhiên, theo tính toán, hiện Quảng Ninh mới chỉ sử dụng khoảng 1/5 tổng diện tích này.

Tỉnh Quảng Ninh hiện đã quy hoạch được 6 vùng nuôi trồng thủy sản tập trung. Đó là vùng nuôi tôm tại Quảng Yên, Tiên Yên, Đầm Hà, Móng Cái; vùng nuôi nhuyễn thể tại Vân Đồn, Đầm Hà, Hải Hà; vùng nuôi cá song tại Vân Đồn; vùng nuôi ghẹ tại Móng Cái; vùng nuôi cua kết hợp cá, tôm tại Quảng Yên; vùng nuôi trồng thủy sản nước ngọt tại Đông Triều, Quảng Yên, Uông Bí. Hoạt động nuôi trồng đã phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, gia tăng giá trị chuỗi sản phẩm theo hướng đồng bộ.

Trong nuôi trồng, đối tượng nuôi chính của tỉnh là tôm thẻ chân trắng, tôm sú, nhuyễn thể và cá biển. Với con tôm, toàn hỉnh hiện có gần 9.700 ha nuôi tôm, sản lượng hàng năm đạt khoảng 10.000 tấn, trị giá 1.400 tỷ đồng với hình thức nuôi ngày càng đa dạng, như bán thâm canh, thâm canh, sử dụng chế phẩm sinh học, nuôi luân canh một vụ tôm, một vụ thủy sản khác, nuôi quảng canh cải tiến. Trong đó, hình thức nuôi bán thâm canh và thâm canh phát triển mạnh, hình thành nhiều vùng nuôi tập trung tại thị xã Quảng Yên, thành phố Móng Cái, huyện Tiên Yên.

Bên cạnh tôm, diện tích nuôi nhuyễn thể tại Quảng Ninh cũng rất lớn, với đa dạng loài và vùng nuôi, như: nuôi hà trên bãi triều, nuôi ngao giá, ngao hoa, nghêu Bến Tre, hàu, sò, tu hài… Cùng với việc tăng diện tích, ngành thủy sản tỉnh đã tích cực áp dụng tiêu chuẩn VietGAP vào nuôi trồng. Đây được xem là giải pháp quan trọng, kịp thời, nhằm hạn chế tối đa những tác động tiêu cực, giúp nghề nuôi phát triển bền vững và nâng cao giá trị sản phẩm.

Thu hút đầu tư

Để có được bước phát triển quan trọng, tận dụng những thuận lợi về điều kiện thiên nhiên, ngoài việc chú trọng phát triển nhanh hình thức nuôi trồng thủy sản bán thâm canh, thâm canh, công nghiệp; chuyển mạnh từ nuôi hộ gia đình sang tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp, tỉnh Quảng Ninh đã khuyến khích, mời gọi nhiều doanh nghiệp tham gia đầu tư.

Lĩnh vực đầu tiên có thể kể đến là con giống. Ngoài những trung tâm giống có từ trước, tỉnh tạo điều kiện để Công ty CP Đầu tư phát triển Hạ Long triển khai đầu tư xây dựng Trung tâm Sản xuất giống và Nuôi thực nghiệm giống hải sản tại xã Đại Bình (Đầm Hà). Với những chủ trương vững chắc, công tác sản xuất, cung ứng giống thủy sản của Quảng Ninh đã đạt được những thành công nhất định. Đến nay, toàn tỉnh có 18 cơ sở sản xuất và kinh doanh giống thủy sản, cung ứng cho thị trường 991 triệu con, đáp ứng được gần 30% nhu cầu sản xuất tại chỗ.

Tỉnh đang hướng đến sắp xếp, cải tạo và nâng cấp các cơ sở sản xuất giống hiện có; nghiên cứu, nhập và chuyển giao công nghệ mới nhằm tăng năng suất và chất lượng con giống, đảm bảo đến năm 2020 sản xuất đạt trên 6 tỷ giống, đến năm 2030 đạt 8 tỷ con giống các loại.

Về nuôi trồng thủy sản, ngoài việc quy hoạch chi tiết lại các vùng nuôi, tập trung phát triển các đối tượng chủ lực, thế mạnh, tỉnh cũng tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển trên địa bàn. Mới đây, Quảng Ninh đã đồng ý chủ trương cho Tập đoàn Việt – Úc khảo sát, nghiên cứu triển khai dự án đầu tư nuôi trồng thủy sản (nuôi tôm) tại các địa phương Đầm Hà, Vân Đồn, Quảng Yên.

Nguồn: Theo Thủy sản Việt Nam


Bạn đang xem chủ đề mật cá chình có tác dụng gì trên website Haisantuoisong.net. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã giới thiệu ở trên sẽ hữu ích với bạn. Nếu bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!