hình ảnh con tôm tích

Tổng hợp các bài viết thuộc chủ đề hình ảnh con tôm tích xem nhiều nhất, được cập nhật mới nhất ngày 18/06/2021 trên website Haisantuoisong.net. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung hình ảnh con tôm tích để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Các bài viết trong chủ đề hình ảnh con tôm tích

Tìm thấy #33 tin bài liên quan hình ảnh con tôm tích


【#1】Mỹ tăng thuế chống bán phá giá đối với tôm Việt Nam

Cuối tuần qua, Bộ Thương mại Mỹ (DOC) đã công bố phán quyết về nâng mức thuế chống bán phá đối với tôm Việt Nam đã xuất sang Mỹ trong giai đoạn 1/2/2013-31/1/2014 lên 1,42% thay vì 1,16% như trước đó.

Mỹ tăng thuế chống bán phá giá đối với tôm Việt Nam

Mức thuế tăng áp dụng cho giai đoạn 1/2/2013- 31/1/2014…

Đây là phán quyết được đưa ra sau khi áp dụng cách tính mới, cho dù vào ngày 7/9/2015, họ đã công bố kết quả đợt rà soát hành chính lần thứ 9 (POR9) thuế chống bán phá giá tôm đông lạnh nhập khẩu từ Việt Nam.

Để đưa ra mức thuế chống bán phá giá đối với tôm nhập khẩu từ Việt Nam, DOC đã chọn nước thứ ba có quy mô nền kinh tế tương đồng với Việt Nam để làm cơ sở tính toán.

Vẫn là xu hướng bảo hộ sản xuất trong nước

Trong những năm trước, Bangladesh được chọn là quốc gia tham chiếu, nhưng năm nay do có sự khiếu nại của một số nhà máy chế biến tôm và chủ tàu đánh bắt tôm ở Mỹ, DOC đã thay thế Bangladesh bằng Ấn Độ. Trên cơ sở thay đổi này, DOC đã quyết định nâng mức thuế chống bán phá giá đối với tôm nhập khẩu từ Việt Nam tăng từ 1,16% lên 1,42%.

Trên thực tế, các công ty nhập khẩu từ Việt Nam vào Mỹ đã phải đặt cọc một khoản tiền ngay khi nhập hàng, và khoảng chênh lệch do thuế chống bán phá giá tăng lên sẽ được truy thu từ khoản tiền đặt cọc này. Nhưng cho dù nguồn tiền được tính từ đâu cũng khiến giá tôm của Việt Nam xuất sang thị trường Mỹ tăng lên, và như thế sẽ làm giảm tính cạnh tranh của sản phẩm tôm của Việt Nam tại Mỹ.

Ông Trần Văn Lĩnh, Chủ tịch Hội đồng Quản trị, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Thương mại Thuỷ sản Thuận Phước cho biết, DOC tăng mức thuế chống bán phá giá như trên là do họ có ý muốn gây khó khăn cho các công ty xuất khẩu tôm của Việt Nam.

Tại kỳ POR9, Thuận Phước là 1 trong 3 bị đơn bắt buộc và phải chịu mức thuế chống bán phá giá khá cao, và bây giờ DOC có tính lại mức thuế của POR9 thì mức thuế của các bị đơn bắt buộc có thể sẽ tăng, và có thể ở mức khác nhau. Vì, mức thuế chống bán phá giá tại POR 9 vẫn thấp hơn so với các kỳ POR sau này và thậm chí thấp còn hơn các kỳ POR trước đó.

“Thuế chống bán phá giá do nước nhập khẩu đặt ra với mục đích làm lợi cho họ và bảo vệ sản xuất trong nước. Các mức thuế chống bán phá giá tôm tuy đã được quyết định trong các kỳ POR, nhưng nếu phía Mỹ xem thấy kỳ POR nào có mức thuế không phù hợp họ có thể nộp đơn và yêu cầu toà án tính lại. Nhất là bây giờ, chính quyền của Tổng thống Donal Trump đang đặt nặng vấn đề bảo hộ sản xuất trong nước, sẽ càng khó cho xuất khẩu thuỷ sản vào Mỹ hơn”, ông Lĩnh nhấn mạnh.

Luật pháp Mỹ cho phép

Theo ông Trương Đình Hoè, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thuỷ sản Việt Nam (Vasep), DOC ra quyết định này là dựa trên phán quyết của toà án từ kết quả của POR 9, do có sự khiếu nại của nguyên đơn là các nhà đánh bắt và chế biến tôm ở Mỹ. Họ kiện lên toà án và yêu cầu xử lại vì cho rằng, DOC sử dụng dữ liệu là mức lương của Bangladesh quá thấp không phù hợp để tính và toà án đã đồng ý.

Bởi theo luật của Mỹ, không nhất thiết sử dụng toàn bộ dữ liệu của một quốc gia làm giá trị thay thế, họ có thể sử dụng một vài dữ liệu của nước này, một vài dữ liệu của nước kia vẫn hợp pháp, và kết quả này cũng chỉ tác động đến việc thanh toán thuế cho các lô hàng đã xuất khẩu tại POR 9, hoàn toàn không có ảnh hưởng đến các lô hàng khác hoặc cho đến thời điểm hiện nay.

Theo luật của Mỹ, khi các bên không chịu kết quả DOC công bố thì có quyền khiếu kiện lên toà án và Toà sẽ xử lại. Nếu Toà xử DOC thua thì DOC phải tính lại theo phán quyết của Toà, và mức thuế chống bán phá giá tính lại có lên cao hay xuống thấp đều có thể xảy ra, vấn đề này hoàn toàn hợp pháp và các bên liên quan phải tuân theo lệnh của toà án.

“Trong trường hợp này, bên nguyên đơn cho rằng, DOC dùng mức lương của Bangladesh tính toán là không phù hợp, nên khiếu nại lên toà án và toà án đã đồng ý dùng mức lương của Ấn Độ để tính nên mức thuế chống bán phá giá đã tăng lên”, ông Hoè chia sẻ.

Tuy toà ra đã phán quyết nhưng nếu các công ty Việt Nam không đồng ý thì vẫn có thể kiện lên toà cao cấp hơn để yêu cầu xử lại, trong thời gian chờ xử lại vẫn chưa áp dụng mức thuế mới. Vấn đề này hoàn toàn hợp pháp chứ không có gì sai trái.

Từ đầu năm 2017, DOC cũng đã quyết định kéo dài thời gian áp thuế chống bán phá giá đối với tôm Việt Nam thêm 5 năm, còn mức thuế áp cho từng khoảng thời gian cụ thể sẽ được phán quyết sau các đợt rà soát hành chính của DOC.

Theo kế hoạch, DOC sẽ tiến hành đợt rà soát hành chính tiếp theo đối với tôm nhập khẩu từ Việt Nam vào năm 2018, và rất có thể Bangladesh sẽ tiếp tục không được chọn là quốc gia tham chiếu.

Theo Nguyễn Huyền

Vneconomy


【#2】Liên kết chặt chẽ phát huy thế mạnh vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL

“Cà Mau, TP. Cần Thơ, An Giang và Kiên Giang không chỉ được xác định là vùng kinh tế trọng điểm của khu vực ĐBSCL mà còn là 1 trong 4 vùng kinh tế trọng điểm của cả nước. Đây là vùng kinh tế có vị trí, vai trò quan trọng trong phát kinh tế – xã hội, đảm bảo quốc phòng – an ninh của cả nước”. Đó là nhận định của Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Nguyễn Tiến Hải, Chủ tịch Hội đồng vùng nhiệm kỳ 2017–2018, tại hội nghị Hội đồng vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL lấn thứ nhất, diễn ra ngày 12/7.

Các địa phương trong vùng đều có lợi thế, tiềm năng phát triển nuôi trồng, khai thác thủy sản, sản xuất lúa gạo, phát triển du lịch… Điều này thể hiện ở mức tổng thu ngân sách 6 tháng của 4 tỉnh trên 16.046 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu luôn duy trì ở con số 4 tỷ USD; trong 6 tháng có đến gần 2.000 doanh nghiệp được thành lập mới…

Nhiều hạn chế cần được tháo gỡ

Mặc dù là khu vực được đánh giá giàu tiềm năng và lợi thế, nhưng theo đánh giá của ông Nguyễn Tiến Hải thì, thời gian qua sự liên kết, phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau giữa các địa phương trong vùng chưa đạt được kết quả như mong muốn. Điều này đã ảnh hưởng đến việc phát huy thế mạnh của từng địa phương của vùng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, năng lực cạnh tranh của địa phương, của vùng.

Con tôm - một trong thế mạnh và có tỷ trọng lớn của vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL.

Con tôm – một trong thế mạnh và có tỷ trọng lớn của vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL.

Ông Nguyễn Tiến Hải còn chỉ ra những hạn chế hiện nay trong công tác phối hợp giữa các địa phương trong vùng là chưa có quy định, chế tài cũng như cơ chế, chế chính sách cụ thể; chưa có cơ chế phối hợp giữa các bộ ngành trung ương với các địa phương trong điều hành cơ chế chính sách của vùng. Chưa có sự ràng buộc trách nhiệm giữa các địa phương để phối hợp trong giải quyết các lĩnh vực cơ bản trong liên kết vùng như: quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch ngành, lĩnh vực quan trọng, quy hoạch kết nối hạ tầng giao thông… Từ đó, trong quá trình phát triển mỗi địa phương trong vùng lại chọn một ngành, lĩnh vực riêng lẻ, dựa trên lợi thế và thế mạnh của mình mà chưa tính đến sự phối hợp liên kết với nhau để tăng thêm sức cạnh tranh của vùng cũng như của mỗi địa phương.

Đánh giá về vai trò của 4 tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL, Phó trưởng Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ Nguyễn Trung Hiếu nhận định, đây là những địa phương có vị trí địa lý vô cùng quan trọng trong giao thương, phát triên kinh tế – xã hội của toàn vùng. Nếu tính cả sản lượng lúa, thủy sản đây là khu vực chiếm tỷ trọng lớn của cả nước. Tuy nhiên, hiện vùng vẫn còn khó khăn phải khắc phục, đặc biệt là giao thông. Nguồn vốn ngân sách đầu tư cho giao thông hiện nay chỉ mới đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu thực tế. Trong khi đó, biến đổi khí hậu ngày một diễn biến phức tập thì nó lại càng trở nên khó khăn và bức xúc.

Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội của các tỉnh, thành phố vùng còn yếu kém, thiếu đồng bộ, tính kết nối thấp. Nhiều danh mục dự án hạ tầng giao thông đã được bộ, ngành Trung ương và Chính phủ phê duyệt nhưng tiến độ triển khai còn chậm… Đây là lực cản lớn nhất trong liên kết vùng. Đặc biệt, Chủ tịch UBND TP. Cần Thơ Võ Thành Thống nhận định, thời gian qua do tác động của biến đổi khí hậu làm cho tình trạng sạt lở đất ven biển, ven sông, hiện tượng xâm mặn ngày một nghiêm trọng và đã trở thành thách thức lớn không phải của tỉnh hay thành phố nào mà là toàn vùng. Trong bối cảnh đó, đòi hỏi phải có sự phối hợp đồng bộ, chặc chẽ của cả vùng trong ứng phó và cùng phát triển.

Liên kết mang tính liên vùng

Tại hội nghị, đa phần các địa phương đều thống nhất kiến nghị Chính phủ điều chỉnh, bổ sung một số quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội, các quy hoạch ngành, lĩnh vực. Ông Mai Anh Nhịn, Phó chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang cho rằng, khi kiến nghị Chính phủ và các bộ, ngành điều chỉnh một số quy hoạch phát triển nông nghiệp thì cần phải có điều chỉnh về thủy lợi. Đây là lĩnh vực quan trọng quyết định thắng lợi cho sản xuất nên phải điều chỉnh cho phù hợp với thực tế diễn biến hiện nay. Ngoài ra, cần kiến nghị xin cơ chế chính sách chung của cả vùng và các tỉnh cần phải chủ động ngồi lại bàn nội dung liên kết cụ thể từng địa phương với nhau trên từng lĩnh vực cụ thể.

Khai thác thủy sản cũng là một trong những tiềm năng lớn của vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL.

Khai thác thủy sản cũng là một trong những tiềm năng lớn của vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL.

Đối với việc thu hút nguồn nhân lực cho cả vùng, nhất là các chuyên gia đầu ngành còn hạn chế ở các tỉnh, thành phố hiện nay (trừ TP. Cần Thơ): “Cần có sự phối hợp trong sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là các chuyên gia đầu ngành, còn làm theo kiểu hiện nay mỗi tỉnh đều có chính sách riêng để thu hút nguồn nhân lực thì vô tình đã tạo ra cuộc canh tranh giữa các tỉnh”, ông Nhịn chia sẻ.

Liên quan đến quy hoạch cho toàn vùng, ông Vũ Quang Các, Vụ trưởng Vụ quản lý quy hoạch, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, với đặc trưng của vùng là có độ cao trung bình từ 0,5-1,5 m, nếu một điểm bị tác động do biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng đến toàn vùng. Chính vì vậy, cần có nghiên cứu một cánh tổng thể mới có giải pháp giải quyết một cách đồng bộ. “Hiện Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang tiến hành lập quy hoạch tổng thể phát kinh tế – xã hội vùng ĐBSCL đến năm 2030 theo phương pháp tích hợp đa ngành từ nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ – thương mại, nuôi trồng thủy sản, giao thông… để giải quyết các vấn đề mang tính liên vùng, liên tỉnh”, ông Các cho biết thêm.

Đồng tình với quan điểm giải quyết vấn đề cần có sự liên kết toàn vùng và liên vùng, Phó trưởng Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ Nguyễn Trung Hiếu cho rằng, để khắc phục khó khăn hiện nay của vùng, ngoài việc xây dựng mối liên kết chặt chẽ với các địa phương trong vùng cần phải có mối liên kết với các vùng kinh tế khác như: Tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười, Bán đảo Cà Mau… để tránh sự trùng lấp và phát huy được thế mạnh của từng tiểu vùng.

(Theo Thủy sản Việt Nam)


【#3】Tôm thẻ chân trắng kết hợp cá điêu hồng

Nghiên cứu này được thực hiện tại tỉnh Nam Định, nhằm đánh giá tác động cũng như tìm ra giải pháp thích hợp để thích ứng với tình hình biến đổi khí hậu như hiện nay.

Nuôi TTCT kết hợp cá diêu hồng cho hiệu quả bền vững   Ảnh: CTV

Nuôi TTCT kết hợp cá diêu hồng cho hiệu quả bền vững Ảnh: CTV

Tổng quan về mô hình

Cá điêu hồng (Oreochromis sp.) là loài ăn tạp, chúng có thể ăn cả thực vật, động vật thủy sinh, động vật đáy, mùn bã hữu cơ trong ao nuôi và thậm chí cả chất thải của đối tượng nuôi khác. Tôm thẻ chân trắng là đối tượng nuôi có nhiều triển vọng và phát triển nhanh không chỉ ở Việt Nam mà ở các nước có nghề nuôi tôm trên thế giới. Nuôi tôm thẻ chân trắng kết hợp với cá điêu hồng sẽ giảm thiểu vi khuẩn gây bệnh như AHPND/EMS (acute hepatopancreatic necrosis disease/Early Mortality Syndrome) (SalgueroGonzálezet al., 2016).

Mô hình được thực hiện tại xã Giao Phong, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định là một trong những địa phương chịu nhiều ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trong vùng: như hiện tượng xâm thực mặn, ngọt hóa một số thời điểm, một số vùng. Vì vậy, sự phù hợp của mô hình được xem là giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu trong nuôi trồng thủy sản ở vùng duyên hải.

Quy trình kỹ thuật

Chuẩn bị ao nuôi:

Tiến hành tát cạn ao, sử dụng chế phẩm vi sinh để xử lý bùn đen ở đáy ao, phơi đáy 10 – 15 ngày, cày xới đáy ao để loại bỏ khí độc NH3, H2S. Bón vôi cải tạo đáy và bờ ao, nhằm diệt tạp, nâng cao pH, tăng khả năng đệm của nước ao nuôi, phơi đáy ao 3 ngày. Ao có diện tích 2.000 – 2.500 m2 là phù hợp.

Chọn giống: Chọn tôm và cá giống khỏe mạnh, nguồn gốc rõ ràng, cá không bị xây xước, dị tật dị hình… Tôm thẻ chân trắng cỡ 2 – 3 cm/con, cá điêu hồng trọng lượng 5 + 0,35 g.

Mật độ nuôi: Thả tôm chân trắng với mật độ 100 con/m2. Tôm giống trước khi thả ra ao nuôi được thuần hóa về nước ngọt trên các bể ương 7 – 10 ngày. Cá điêu hồng với mât độ 2 con/m2.

Môi trường: Ở thời điểm thả tôm giống, nước ao có nhiệt độ dao động 22 – 250C, với ao nước ngọt có độ mặn 0 – 0,5‰, ao nước lợ có độ mặn 5 – 10‰. Ôxy hòa tan được cung cấp bổ sung bằng cách bật quạt nước, mỗi ao nuôi được lắp đặt 2 hệ thống quạt 6 cánh ngay từ tháng nuôi thứ 2. Hàng ngày quạt nước thường được bật ngay từ 21 giờ đêm cho đến 6 giờ sáng hôm sau, trong những ngày thời tiết thay đổi quạt còn được bật ngay cả ban ngày vừa để cung cấp ôxy hòa tan vừa thoát khí độc ra khỏi ao nuôi.

Thức ăn: Thức ăn được dùng cho cá điêu hồng là thức ăn viên nổi có hàm lượng đạm 30 – 35%. Một điểm khác biệt ở đây là tôm thẻ chân trắng trong mô hình được cho ăn thức ăn vịt đẻ hàm lượng đạm 18 – 19% (thức ăn có hàm lượng đạm ít hơn so với các mô hình thông thường).

Cho ăn: Hàng ngày cho ăn 2 lần vào 8 – 9 giờ sáng và 4 – 5 giờ chiều.

Chăm sóc: Sử dụng chế phẩm vi sinh có chứa các chủng loại vi khuẩn có lợi như Bacillus sp., Notrosomonas sp., Nitrobacter sp. Bổ sung 1 lần/tháng trong 2 tháng nuôi đầu và 1 lần/2 tuần trong tháng nuôi cuối. Ngoài ra, cũng cần định kỳ bổ sung mật  rỉ đường. Do nhu cầu độ kiềm cao của tôm thẻ chân trắng khi nuôi trong nước ngọt nhằm tránh hiện tượng mềm vỏ nên sử dụng Dolomite được bón định kỳ 2 lần/tháng.

Trong quá trình nuôi thường xuyên kiểm tra các yếu tố môi trường như pH, nhiệt độ, ôxy hòa tan được đo 2 lần/ngày vào 6 giờ sáng và 2 giờ chiều, các yếu tố khác như độ mặn, N-NO2, NH2, được đo 1 lần/tuần. Tốc độ sinh trưởng của cá, tôm được kiểm tra định kỳ 1 lần/2 tuần để kịp điều chỉnh lượng thức ăn. Thời tiết nắng nóng chú ý bật quạt nước đều và nâng mức nước lên vào những ngày lạnh.

Thu hoạch và kết quả

Nuôi cá trong vòng 6 tháng đạt cỡ > 800 g/con, nuôi tôm chung với cá trong vòng 3 tháng (một vụ cá kết hợp 2 vụ tôm) đạt cỡ 40 – 60 con/kg, trong khi đó nuôi hoàn toàn tôm thẻ chân trắng cùng thời gian, cho kết quả đạt 60 – 80 con/kg.  Mặc dù, ở mô hình nuôi tôm kết hợp cá diêu hồng này đã sử dụng thức ăn thấp đạm (sử dụng thức ăn nuôi vịt đẻ), cho thấy đây là ảnh hưởng tích cực của việc kết hợp giữa cá điêu hồng với tôm thẻ chân trắng, đã tạo môi trường sinh thái thích hợp cho tôm phát triển, hơn nữa, thức ăn có hàm lượng đạm thấp nhằm mục đích sử dụng triệt để nguồn dinh dưỡng trong ao nuôi, tạo điều kiện cho vi sinh vật có lợi phát triển.

Trong quá trình nuôi, tôm nuôi không bị dịch bệnh hoại tử gan tụy cấp, giảm chi phí thuốc và hóa chất của mô hình lên tới 30% và mang lại hiệu quả kinh tế tăng đến hơn 2,8 lần. Với mô hình này đã đem lại hiệu quả kinh tế 124 – 126 triệu đồng/1.000 m2 ao nuôi.

Tuy nhiên, trong mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng kết hợp với cá điêu hồng cũng xuất hiện một số hạn chế cần khắc phục như: Tôm hay bị bệnh mềm vỏ do nước ngọt thường có độ kiềm thấp nên cần tăng cường bổ sung Dolomit cho ao nuôi; chất lượng cá điêu hồng giống thường bị hạn chế về màu sắc và gặp khó khăn trong việc tìm con giống sớm do ảnh hưởng của không khí lạnh khu vực phía Bắc; các hộ nuôi thường thu cá thương phẩm đồng loạt do ảnh hưởng của mùa vụ khi thu hoạch nên phần nào đã bị tác động của thị trường tiêu thụ (cung vượt cầu). Từ đó khiến giá bán không ổn định, thu nhập của người nuôi bấp bênh.

(Theo Thủy sản Việt Nam)


【#4】Sóc Trăng: Điện về, tôm trúng mùa hơn

Để giải bài toán cung cấp điện cho các vùng nuôi tôm tại địa phương, tỉnh Sóc Trăng đã chủ động làm việc với Tổng Công ty Điện lực Việt Nam (EVN) và được chấp thuận dự án đầu tư nâng cấp, cải tạo gần 95 km đường dây trung thế, 244 km đường dây hạ thế, 216 trạm biến áp với tổng vốn đầu tư dự kiến là 85,5 tỷ đồng.

Hệ thống điện 3 pha hiện có mặt khắp các vùng nuôi tôm của tỉnh Sóc Trăng   Ảnh: XT

Hệ thống điện 3 pha hiện có mặt khắp các vùng nuôi tôm của tỉnh Sóc Trăng Ảnh: XT

Tiếp đó, ngành điện tiếp tục triển khai thực hiện Dự án Thành phần cải tạo, nâng cấp và Phát triển lưới điện phục vụ nuôi tôm công nghiệp tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 3, có tổng vốn đầu tư 187,5 tỷ đồng, để đầu tư cải tạo và xây dựng mới 139,4 km đường dây trung thế, 408,1 km đường dây hạ thế, 338 trạm biến áp có tổng dung lượng 38.185 kVA. Dự án hoàn thành và đưa vào vận hành vào quý I/2016 đã góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng diện tích nuôi thủy sản sớm vượt kế hoạch năm, giải quyết cấp điện cho 1.727 hộ nuôi tôm.

Ông Huỳnh Khánh Lượng, Giám đốc HTX Nuôi tôm ở ấp Nhà Thờ, xã Trung Bình, huyện Trần Ðề đã thả nuôi hết 30 ao nuôi tôm, với diện tích gần 12 ha. Mỗi năm, doanh thu trang trại nuôi tôm của ông tăng lên hàng tỷ đồng. “Khi Dự án điện phục vụ nuôi tôm nước lợ của tỉnh hoàn thành đến nay, chi phí nuôi tôm đã giảm rõ rệt, nên lợi nhuận cũng cao hơn trước”, ông Lượng chia sẻ.

Đại diện hộ nuôi tôm tại xã Trung Bình, huyện Trần Đề cho biết, gia đình ông có 3 ao nuôi với tổng diện tích gần 1 ha, trước đây phải trả khoảng 20 triệu đồng tiền điện/tháng. Được ngành điện hướng dẫn cụ thể cách lắp đặt thiết bị tiết kiệm điện, gia đình ông đã lựa chọn giải pháp sử dụng dàn quạt nước có trục quay cùng trục với máy phát điện lắp đặt tại 1 ao nuôi và tiết kiệm được khoảng 15% tiền điện/tháng.

Công ty Điện lực Sóc Trăng là đơn vị được Tổng Công ty Điện lực miền Nam EVN SPC chọn thực hiện thí điểm Chương trình “Hỗ trợ tiết kiệm điện cho các hộ nuôi tôm khu vực ĐBSCL và một số tỉnh Nam bộ giai đoạn 2016 – 2017”. Qua triển khai, giới thiệu mô hình đã có 158 hộ nuôi tôm đăng ký tham gia giai đoạn thí điểm với tổng diện tích là 167 ha, tổng số gối đỡ con lăn là 8.482 bộ (trong đó 5.237 gối loại đỡ và 3.245 loại treo), tổng số dàn quạt là 1.644, ước tính tổng chi phí thực hiện là 714 triệu đồng.

Được hỗ trợ thực hiện giải pháp mới, anh Ngô Thanh Tuấn, Giám đốc HTX Nuôi tôm Hòa Nghĩa, chia sẻ: “Giải pháp sử dụng gối đỡ con lăn thay thế gối đỡ chữ U cho dàn quạt, qua thử nghiệm cho thấy tiết kiệm điện khoảng 12%; xử lý trục quay của dàn quạt đồng trục với trục quay của động cơ, tiết kiệm điện khoảng 13%”.

Theo Thủy sản Việt Nam


【#5】Sóc Trăng: Khá lên nhờ tôm – lúa

Xã Hòa Tú 1 ở vùng đất 6 tháng mặn – ngọt nối nhau, hồi nào thuộc loại nghèo nhất huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng, đường đến đó đò giang trắc trở; nhờ tôm – lúa mà khá lên rất nhiều. Phó Chủ tịch UBND xã Trương Hoàng Khai cho biết, từ ngày mở ra nuôi tôm đời sống của người dân mới đỡ vất vả hơn trước.

 Mô hình tôm - lúa thích hợp để mang lại hiệu quả cao

Mô hình tôm – lúa thích hợp để mang lại hiệu quả cao

Hiện nay, gia đình ông Khai vẫn sản xuất tôm – lúa với 2 ha, riêng nuôi tôm cả sú lẫn thẻ chân trắng một năm lời hơn 100 triệu đồng. Diện tích đất tự nhiên của xã 3.156 ha. Trong đó, diện tích nuôi tôm năm 2016 là 2.896 ha, hầu hết nuôi tôm thẻ chân trắng quảng canh cải tiến thả mật độ gần 30 con/m2, thu 7.467 tấn. Có 1.585 ha ruộng cạn, sau nuôi tôm là sạ lúa (1.432 ha lúa đặc sản), năng suất bình quân 6,5 tấn/ha, tổng sản lượng 10.302 tấn.

Ở ấp Hòa Đê đã ra đời HTX Nông ngư Hòa Đê có 61 thành viên với 73 ha tôm – lúa, sản xuất theo tiêu chuẩn sạch: không dùng hóa chất, kháng sinh. Giám đốc Mã Văn Hồng giới thiệu, các thành viên tuyệt đối không dùng hóa chất và kháng sinh từ năm 2013, chỉ sử dụng men vi sinh và khi tôm nhiễm bệnh thì dùng tỏi để trị. Mùa khô nuôi tôm và cá, còn mùa mưa làm lúa cũng không sử dụng thuốc hóa học, không cả cày bừa đáy ao.

Giám đốc Hồng mở sổ đọc kết quả sản xuất của HTX trong năm 2016. Tổng diện tích 73 ha: nuôi tôm thẻ chân trắng 45 ha, tôm sú 18 ha, và vụ lúa sạ 29 ha. Nuôi tôm thẻ chân trắng thả giống mật độ dưới 30 con/m2, nuôi 2 vụ thu 76,8 tấn; tôm sú thả mật độ 10 – 13 con/m2, nuôi một vụ thu 13 tấn. Lúa thu 188 tấn. Tất cả đều có lời, cả năm lời khoảng 2,7 tỷ đồng. Chưa kể các loại cá nuôi xen trong ao và rau màu trồng trên bờ thu cũng khá. Riêng ông Hồng có 2,7 ha tôm – lúa, thu 3 tấn tôm, 7 tấn lúa, lời 230 triệu đồng “đủ nuôi hai đứa con đi học và lo cửa nhà”.

Trong năm 2016, thành viên HTX thu lời cao nhất là vợ chồng ông Trần Văn Chính, gần 70 tuổi. Với 3,2 ha, vợ chồng ông thu được 4,2 tấn tôm, 8,5 tấn lúa; tổng lời 250 triệu đồng.

Để đi tới việc sản xuất khá ổn định hiện nay, bà con trải qua quá trình dài phấn đấu. Từ các hộ chí thú làm ăn tích lũy kinh nghiệm, năm 2009, họ thành lập tổ hợp tác có 16 thành viên với 28 ha tôm – lúa. Dần dần phát triển cả về kỹ thuật và quy mô để HTX ra đời hai năm nay.

Trưởng phòng NN&PTNT huyện Mỹ Xuyên, ông Trần Quốc Quang cho biết, khi bà con rành sản xuất không kháng sinh thì huyện hỗ trợ kết nối với các doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm. Nhờ thế, năm nay, HTX ký được hợp đồng để Công ty Thủy sản Sạch bao tiêu tôm với giá cao hơn thị trường 5.000 – 7.000 đồng/kg.

Xã nghèo vùng sâu đi lên nông thôn mới là quá trình thay da đổi thịt không ngừng như cuộc sinh nở trải nhiều vật vã mà kỳ diệu. Bí thư xã Trần Tấn Nhanh vui vẻ: “Trước đây, nhà ngoảnh mặt xuống sông, nay có đường bê tông khang trang nên phải quay nhà ngược lên. Đường bê tông cho xe hai bánh đã lạc hậu với sự phát triển, sản xuất tôm – lúa đang đòi hỏi đường rộng hơn, ít nhất cho xe tải nhẹ thông thương hàng hóa. Đầu năm nay xã đã đầu tư mấy tỷ đồng mở rộng 4 con đường, một số con đường khác được quy hoạch cắm mốc, có vốn là mở mang đáp ứng nhu cầu phát triển.

Nguồn: Theo Thủy sản Việt Nam


【#6】Bình Định: Tuy Phước thắng lợi từ tôm

Tại những vùng nuôi tôm ở thôn Đông Điền, xã Phước Thắng và thôn Vinh Quang 2, xã Phước Sơn, huyện Tuy Phước, tình hình nuôi trồng của người dân có nhiều dấu hiệu tích cực. Với sản lượng thu hoạch tôm toàn huyện trong vụ 1 năm 2017 đạt 771 tấn, năng suất bình quân 8 tạ/ha.

sản lượng thu hoạch tôm toàn huyện trong vụ 1 năm 2017 đạt 771 tấn

Sản lượng thu hoạch tôm toàn huyện trong vụ 1 năm 2017 đạt 771 tấn

Ông Phan Văn Chạy, thôn Đông Điền, xã Phước Thắng một trong những hộ nuôi tôm đạt khá cho biết, ông vừa thu hoạch xong gần 1 ha ao nuôi tôm, cho năng suất đạt 4,5 tấn tôm thẻ chân trắng, bán được gần 500 triệu đồng. Sau khi trừ mọi chi phí còn lãi 300 triệu đồng. Đây là vụ tôm trúng lớn nhất từ trong 10 năm trở lại đây của gia đình ông. Ông Phạm Quang Ân, Phó Phòng NN&PTNT huyện Tuy Phước chia sẻ, trong vụ 1, toàn huyện có trên 971 ha mặt nước đưa vào nuôi tôm, trong đó có 100 ha nuôi theo phương thức bán thâm canh, còn lại nuôi quảng canh cải tiến, đánh tỉa thả bù.

Đến thời điểm này, bà con đã thu hoạch trên 95% diện tích. Vụ tôm năm nay trúng lớn là nhờ người nuôi tuân thủ chặt chẽ các giải pháp kỹ thuật và lịch thời vụ thả tôm của ngành nông nghiệp tỉnh. Tại các vùng nuôi tôm tập trung, các điều kiện về cơ sở hạ tầng, hệ thống thủy lợi được đầu tư xây dựng khá hoàn chỉnh, đáp ứng được yêu cầu nuôi tôm tại địa phương. Mô hình nuôi tôm cộng đồng cũng được người dân thực hiện đồng bộ, hiệu quả. Tại hầu hết các vùng nuôi tôm bán thâm canh, quảng canh cải tiến trên địa bàn huyện đều thành lập các tổ, chi hội nuôi tôm cộng đồng với mục đích hợp tác, hỗ trợ nhau về vốn và kinh nghiệm, cùng nhau bảo vệ môi trường, ngăn ngừa, xử lý dịch bệnh.

Nguồn: Theo Thủy sản Việt Nam


【#7】Cà Mau: Nhiều mô hình nuôi tôm hiệu quả

Cà Mau là tỉnh có nhiều tiềm năng phát triển nông nghiệp, trong đó, thủy sản là thế mạnh; nhiều năm nay, Trung tâm Khuyến nông Cà Mau đã xây dựng và nhân rộng nhiều mô hình khuyến ngư rất hiệu quả, trong đó phải kể đến mũi nhọn con tôm.

Nhân rộng các mô hình nuôi tôm tại Cà Mau  Ảnh: Thiên Trường

Nhân rộng các mô hình nuôi tôm tại Cà Mau Ảnh: Thiên Trường

Trong công tác khuyến ngư, thời gian qua Trung tâm Khuyến nông Cà Mau đã xây dựng và nhân rộng các mô hình nuôi tôm mang lại giá trị kinh tế cao. Với tôm thẻ chân trắng, điển hình là mô hình nuôi thâm canh cải tiến năng suất cao; nuôi tôm thâm canh áp dụng công nghệ biofloc; nuôi thâm canh cải tiến kết hợp công nghệ biofloc; mô hình nuôi an toàn trong vùng dịch bệnh; nuôi kết hợp cá rô phi để cải thiện môi trường và hạn chế dịch bệnh. Với tôm sú, là mô hình quảng canh cải tiến ít thay nước; quảng canh cải tiến hay quảng canh kết hợp với các đối tượng như cua, sò huyết.

Khắc phục khó khăn

Mặc dù được đánh giá có nhiều lợi thế phát triển, thế nhưng, khi xây dựng và triển khai thực hiện các mô hình khuyến ngư, Trung tâm Khuyến nông Cà Mau cũng đã gặp nhiều khó khăn. Chẳng hạn như vấn đề lựa chọn nông dân thực hiện mô hình trình diễn. Cùng đó, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, nắng nóng kéo dài, mưa cục bộ đã tác động xấu đến hiệu quả sản xuất. Với con tôm, dịch bệnh liên tục xảy ra và diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ; môi trường đất, nước, không khí ngày càng ô nhiễm đã tác động sâu rộng đến hoạt động sản xuất đối tượng nuôi này. Thêm vào đó, người nông dân còn lúng túng trong việc áp dụng các quy trình công nghệ và tiêu chuẩn kỹ thuật mới, mặc dù đã qua các lớp tập huấn. Vấn đề nhân rộng mô hình nuôi tôm ứng dụng công nghệ mới còn gặp nhiều khó khăn do chi phí cao, việc tiếp nhận chuyển giao, chăm sóc, quản lý của người dân còn hạn chế vì người dân đã quen với phương pháp canh tác truyền thống.

Ngoài ra, công tác tổ chức lại sản xuất, xây dựng các mô hình kinh tế tập thể, trang trại còn hạn chế. Việc chỉ đạo và tổ chức thực hiện chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành và địa phương; trình độ quản lý, kinh phí hoạt động, vốn đầu tư cho sản xuất của các hợp tác xã, tổ hợp tác chưa đáp ứng được yêu cầu; Chưa hình thành được các tổ chức kinh tế tập thể làm ăn hiệu quả điển hình trên các lĩnh vực sản xuất; sự hỗ trợ và liên kết “4 nhà” trong sản xuất còn hạn chế khiến việc tiếp nhận, chuyển giao và nhân rộng còn gặp không ít khó khăn.

Mặt khác hiện nay, đa số các hộ sản xuất còn nhỏ lẻ, manh mún, chưa có sự liên kết nông hộ nên chi phí sản xuất tăng cao, sản phẩm làm ra chưa đảm bảo về lượng và chất nên dễ bị ép giá. Một số mô hình đạt hiệu quả cao sau khi kết thúc thí điểm nhưng chưa thực sự được quan tâm đã gây khó khăn cho việc tuyên truyền, nhân rộng… Những vấn đề này rất cần được khắc phục sớm để việc triển khai các chương trình khuyến nông, khuyến ngư thời gian tới hiệu quả cao hơn.

Nuôi tôm sú theo GAP

Hiện nay tại Cà Mau, trong các mô hình nuôi tôm thì mô hình nuôi quảng canh cải tiến và quảng canh cải tiến theo hướng VietGAP ngày càng phát triển, đạt 78.283 ha. Mô hình cho hiệu quả rất ổn định, năng suất bình quân đạt 500 – 800 kg/ha/vụ (trong khi nuôi quảng canh cải tiến truyền thống chỉ 300 – 350 kg/ha/vụ); lợi nhuận bình quân 30 – 40 triệu đồng/ha/vụ (nuôi truyền thống 20 – 25 triệu đồng/ha/năm).

Hiện nay, với sự hỗ trợ của Trung tâm Khuyến nông, tại một số nơi mô hình này ngày càng hoàn thiện quy trình và cho hiệu quả cao hơn rõ rệt, có hộ đạt năng suất 1 tấn/ha/vụ. Đây được coi là mô hình chiến lược, bền vững, ổn định lâu dài và đang tiếp tục khai thác, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quy trình nhằm tăng năng suất, hiệu quả và ổn định môi trường. Mặt khác, mô hình nuôi quảng canh cải tiến ít thay nước được đánh giá là phù hợp với điều kiện tự nhiên của Cà Mau, nhất là với các hộ ít đất. Ngoài ra, lợi thế của mô hình còn là vấn đề chi phí đầu tư thấp và dễ áp dụng kỹ thuật vào sản xuất.

Khảo sát thực tế cho thấy, điểm nổi bật của mô hình là việc tổ chức sản xuất và ý thức cộng đồng cao; có tác dụng tích cực trong cải thiện điều kiện môi trường nước vuông nuôi tôm, mật độ nuôi, quản lý được chất lượng nước, thức ăn tự nhiên, từ đó giúp cho hình thức nuôi thành công hơn.

Theo Thủy sản Việt Nam


【#8】Hướng đi nâng cao giá trị con tôm Đầm Dơi

Đã qua, nhiều nông dân trên địa bàn huyện Đầm Dơi mạnh dạn áp dụng các tiến bộ khoa học – kỹ thuật vào nuôi tôm công nghiệp công nghệ cao, vừa hạn chế được ô nhiễm môi trường vừa đạt năng suất, hiệu quả kinh tế rất cao. Từ đó tạo bước đột phá trong sản xuất, góp phần nâng cao sản lượng nuôi trồng thủy sản của địa phương.

Người dân tham quan ao vèo trước khi chiết sang ao nuôi trải bạt, của hộ anh Thái Minh Tuấn ở ấp Chà Là, xã Trần Phán.

Người dân tham quan ao vèo trước khi chiết sang ao nuôi trải bạt, của hộ anh Thái Minh Tuấn ở ấp Chà Là, xã Trần Phán.

Anh Trương Nhựt Thành (ấp Tân Thành, xã Tân Duyệt) nuôi tôm công nghiệp ao đất từ năm 2003 đến cuối năm 2014, sau thời gian nuôi hiệu quả thấp, đầu năm 2015 anh mạnh dạn đầu tư nuôi tôm công nghiệp trải bạt năng suất cao. Anh chia ra làm 4 ao, trong đó có 1 ao nuôi và 3 ao vèo, mỗi ao có diện tích từ 180 đến 1.800m2. Bình quân mỗi ao 1.000m2, anh đầu tư khoảng 250 triệu đồng, mật độ thả con giống 200 con/m2; trong mỗi vụ nuôi tùy thuộc vào độ của bạt, phải vệ sinh từ 5 đến 10 lần. Hiện nay, những ao nuôi của anh Thành, tôm đạt kích cỡ từ 32 – 50 con/kg, ước tính sản lượng thu hoạch trên 15 tấn, tôm loại 30 con/kg hiện có giá khoảng 192.000 đồng, hứa hẹn sẽ cho lợi nhuận rất cao. Thực tế 6 vụ nuôi vừa qua, anh đều thành công, lãi hàng tỷ đồng sau khi đã trừ chi phí. Anh Thành nhận định: “Đối với nuôi trải bạt, có thể nuôi tôm đạt 30 con/kg, còn đối với ao đất thì 30 con/kg là rất khó. 1.000m2 nuôi ao bạt, tôi thu hơn 5 tấn tôm cỡ 30 con/kg; còn đối với ao đất diện tích 1.000m2, khó thu được 2 tấn tôm”.

Thu hoạch tôm công nghiệp trải bạt năng suất cao.

Thu hoạch tôm công nghiệp trải bạt năng suất cao. 

Anh Nguyễn Thanh Tòng (ấp Tân Lợi B, xã Tạ An Khương Nam)có 3 ao nuôi, trong đó 1 ao diện tích 2.500m2, 2 ao lắng; anh thả nuôi mật độ 200 con/m2, trong khoảng 3,5 tháng. Chỉ tính riêng năm 2016, thu hoạch 3 đợt khoảng 20 tấn tôm, sau khi trừ chi phí lãi trên 1,5 tỷ đồng; đến nay anh đã có 4 vụ nuôi tôm công nghiệp công nghệ cao, thu lãi hơn 2 tỷ đồng. Anh Tòng phấn khởi: “Trước đây, gia đình nuôi tôm ao đất, tuy nhiên qua thời gian nuôi tính đi tính lại lợi nhuận không có, thậm chí còn bị lỗ, nên đã mạnh dạn chuyển sang nuôi theo hình thức trải bạt, đạt hiệu quả và lợi nhuận cao hơn”.

Nổi bật là mô hình nuôi tôm trải bạt và siphon đáy ao, mật độ nuôi 200 con/m2. So với cách nuôi truyền thống thì cách nuôi này tuy chi phí ban đầu có lớn, nhưng chi phí nuôi giảm xuống 50%, nhất là thức ăn, thuốc thú y thủy sản, tỷ lệ tôm đạt cao.

Hiện trên địa bàn huyện có gần 100ha diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng công nghệ cao, với 120 hộ nuôi, năng suất trên 20 tấn/ha. Thời gian nuôi ngắn và nhờ quy trình nuôi áp dụng công nghệ cao nên con tôm phát triển tốt, năng suất cao, khi thu hoạch đạt được cỡ lớn từ khoảng 20 – 30 con/kg. Từ đó, lợi nhuận đem lại cho người nông dân rất cao. Điểm nổi bật ở mô hình là kiểm soát tốt được nhiệt độ. Đây là khâu rất quan trọng trong nuôi tôm, bởi thông thường khi lượng mưa lớn hoặc nắng nóng gay gắt ao nuôi sẽ thay đổi nhiệt độ đột ngột, ảnh hưởng rất lớn đến tôm; ngoài ra, sẽ hạn chế được các mầm bệnh lây từ bên ngoài, hạn chế ô nhiễm môi trường xung quanh. Mặt khác, việc nuôi tôm thẻ chân trắng áp dụng công nghệ cao còn cho ra sản phẩm tôm sạch, không có dư lượng kháng sinh, bán được giá cao hơn so với các sản phẩm tôm cùng loại.

Chính nhờ hiệu quả mang lại mà mô hình nuôi tôm công nghệ cao đang được khuyến khích nhân rộng, thay thế cho hình thức nuôi tôm truyền thống vốn có năng suất thấp, lại tiềm ẩn nguy cơ về dịch bệnh. Ông Nguyễn Chí Thuần, Chủ tịch UBND huyện Đầm Dơi, cho biết: “Huyện sẽ tập trung phát triển nuôi tôm công nghiệp công nghệ cao đối với những vùng, những hộ có điều kiện. Song song đó, mở rộng diện tích nuôi tôm quảng canh cải tiến nhằm nâng cao năng suất, sản lượng thủy sản của địa phương”.
Theo Báo Đất Mũi


【#9】Tương lai cho nuôi tôm trên cát

Vùng duyên hải miền Trung được đánh giá rất tiềm năng cho nuôi tôm trên cát. Tuy nhiên, để lĩnh vực này phát triển hiệu quả như mong muốn cần rất nhiều yếu tố, trong đó quan trọng là một chiến lược dài hạn và quy hoạch chi tiết.

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường thăm mô hình nuôi tôm trên cát tại Hà Tĩnh  Ảnh: Nam Anh

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường thăm mô hình nuôi tôm trên cát tại Hà Tĩnh   Ảnh: Nam Anh

Hiệu quả

Khu vực ven biển miền Trung gồm 14 tỉnh thành, trải dài trên 1.800 km bờ biển từ Thanh Hóa đến Bình Thuận, với tổng diện tích đất cát khoảng 100.000 ha. Từ những năm 2000, phong trào nuôi tôm trên cát bắt đầu “bén duyên”, tuy nhiên thời kỳ đầu phát triển chậm do gặp nhiều vướng mắc như: Chi phí đầu tư xây dựng hạ tầng lớn; Giá thành sản xuất cao và tác động tiêu cực như phá rừng, khai thác cạn kiệt nước ngầm… Kể từ khi áp dụng công nghệ mới như nuôi tôm thâm canh ít thay nước, sử dụng chế phẩm vi sinh, tái sử dụng nước, áp dụng công nghệ biofloc… diện tích nuôi tôm trên cát đã phát triển mạnh ở nhiều địa phương. Báo cáo của Tổng cục Thủy sản cho thấy, giai đoạn 2010 – 2016, diện tích nuôi tôm trên cát tăng trưởng trung bình khoảng 7,5%, từ 2.381 ha lên 3.734 ha; Sản lượng tăng trưởng trung bình 5%, từ 30.844 tấn lên 41.705 tấn.

Ông Nhữ Văn Cẩn, Vụ trưởng Vụ Nuôi trồng Thủy sản cho biết: “Nuôi tôm trên cát góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất cát vùng ven biển, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội cho các tỉnh miền Trung. Tuy nhiên, nếu quản lý không tốt có thể phát sinh nhiều hệ lụy như: Hạ tầng vùng nuôi chưa đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật; Chưa có ao lắng, xử lý nước, bùn thải… dễ gây ô nhiễm môi trường; Việc sử dụng thuốc, hóa chất tùy tiện trong sản xuất, chất thải chưa được xử lý đã thải trực tiếp ra môi trường dễ gây tăng nguy cơ lây lan dịch bệnh… Ngoài ra, việc phát triển không theo quy hoạch có thể làm ảnh hưởng đến diện tích rừng phòng hộ ven biển và nguồn nước ngầm ngọt tại các khu vực này”.

Còn theo ông Nguyễn Văn Tỉnh, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy lợi, việc phát triển nuôi tôm trên cát hiện nay ở các tỉnh duyên hải miền Trung đều mang tính tự phát, chưa có quy hoạch tổng thể. Quy hoạch thủy lợi phục vụ cho nuôi trồng thủy sản cũng chưa được quan tâm nên thường xảy ra dịch bệnh.

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường khẳng định, nuôi tôm trên cát vùng duyên hải miền Trung bên cạnh những điều kiện thuận lợi cho phát triển thì còn tiềm ẩn nhiều thách thức như: Thời tiết khắc nghiệt, nắng nóng vào mùa hè, lạnh và mưa phùn của các tỉnh duyên hải Bắc miền Trung; Tần suất lũ lụt, giông bão nhiều gây rủi ro cao cho người nuôi; Nguồn nước ngọt, mặn để pha trộn cho nuôi tôm hạn chế; Chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng cao, người dân nhỏ lẻ khó phát triển… Nhưng, thực tế đã cho chúng ta thấy, nếu làm tốt, đúng quy trình, đầu tư bài bản, nuôi tôm trên cát sẽ cho năng suất, hiệu quả cao.

Môi trường là số một

Theo ông Lê Đình Sơn, Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh, từ đầu năm 2017, môi trường biển đã an toàn, hoạt động nuôi tôm trên cát tiếp tục duy trì, phát triển thành công. Hiện, Hà Tĩnh đã có hơn 407 ha đưa vào nuôi tôm trên cát, sản lượng trên 2.000 tấn (năm 2016). Nhiều mô hình nuôi tôm trên cát đạt năng suất, hiệu quả kinh tế cao như: Công ty TNHH Sao Đại Dương đạt 30 tấn/ha/vụ; Công ty TNHH Grobest Vietnam đạt 20 – 25 tấn/ha/vụ; Một số hộ nuôi đạt 15 – 20 tấn/ha/vụ. Nhiều vùng đất cát bạc màu, hoang hóa nay đã trở thành “đất vàng”, đem lại doanh thu hàng tỷ đồng cho người nuôi tôm, đời sống người dân thay đổi từng ngày.

Tuy nhiên, việc tìm hướng đi để nghề nuôi tôm trên cát phát triển bền vững vẫn đang là bài toán cần lời giải. Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường chỉ đạo UBND các tỉnh cần rà soát lại diện tích đất cát có thể phát triển nuôi tôm, quy hoạch lại trên nguyên tắc không xâm phạm đất rừng, coi việc bảo vệ môi trường là nguyên tắc số 1; Vùng quy hoạch phải có điều kiện phát triển hạ tầng về điện, nước, giao thông…; Quy hoạch phát triển không xung đột với các ngành nghề khác; Quy hoạch tập trung, quy mô phù hợp với địa hình, quản lý, khả năng đầu tư, trình độ quản trị để đảm bảo phát triển bền vững. Cần quyết tâm làm bài bản, dành nguồn lực cho quy hoạch với sự tham gia của các bên liên quan. Song song với việc quy hoạch, các địa phương cần xây dựng đề án, dự án cụ thể, có bước đi thận trọng và kiểm soát chặt chẽ. Riêng 4 tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế với diện tích tiềm năng lớn cần tập trung chỉ đạo sát sao cùng với tái cơ cấu, chuyển đổi cơ cấu sử dụng để phát triển nghề này.

Đối với các doanh nghiệp, cần tiếp tục tổ chức sản xuất tốt trên diện tích đang canh tác; Liên kết chặt chẽ với nhau để giải quyết các vấn đề trong chuỗi sản xuất ngành tôm và quan trọng là liên kết chặt chẽ với nông dân, xem đây là nhiệm vụ và nét văn hóa của doanh nghiệp để tạo sự bền vững và chia sẻ quyền lợi trong chuỗi sản xuất.

Tổng cục Thủy sản sớm tổng kết các mô hình nuôi phù hợp quy mô, khu vực địa lý, các ứng dụng khoa học kỹ thuật để phổ biến, hướng dẫn cho người nuôi. Đề xuất các đề tài khoa học để giải quyết các vấn đề. Phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp nghiên cứu các khâu trong chuỗi sản xuất tôm như: giống, thức ăn, chế phẩm sinh học, quy trình xử lý nước..

Nguồn: Theo Thủy sản Việt Nam


【#10】Choáng với ông chủ Quảng Ninh đầu tư 80 tỷ đồng nuôi tôm sạch

Trong giới nuôi tôm ở Móng Cái (Quảng Ninh), cái tên Bùi Ngọc Liêm được biết và nhắc đến như một “ông trùm”. Ông Liêm là người thúc đẩy xây dựng nhãn hiệu tập thể “Tôm thẻ chân trắng Móng Cái” và tiên phong đưa ứng dụng khoa học mới trong nuôi tôm công nghiệp. Nhiều hội viên được ông Liêm giúp đỡ đã trở thành những ông chủ nuôi tôm giàu có ở vùng biên giới.

Thắng lớn từ “canh bạc” đầu tiên

Khác với phong cách của một “ông trùm” như người ta thấy, ông Bùi Ngọc Liêm giản dị, dễ gần và mang đậm chất mộc mạc của người nông dân. Nhìn cơ ngơi gần 7ha khu vực nuôi tôm đã đầu tư lên tới hơn 80 tỷ đồng, với tổng sản lượng tôm nuôi đạt hơn 40 tấn, doanh thu hơn 3,5 tỷ đồng/năm… của ông, ít người biết bao nhiêu mồ hôi, nước mắt ông Liêm đã rơi trên mảnh đất nuôi tôm ở khu 9, phường Hải Hòa, TP.Móng Cái này.

 choang voi ong chu quang ninh dau tu 80 ty dong nuoi tom sach hinh anh 1

Một ao nuôi tôm thẻ chân trắng theo hình thức khép kín của ông Bùi Ngọc Liêm. Ảnh:  Nguyễn Quý

Ông Liêm quê Nam Định, là bộ đội chuyển ngành, làm cán bộ công nhân viên cơ quan nhà nước, rồi về nghỉ chế độ. Đến năm 1991, Bùi Ngọc Liêm quyết tâm ra Móng Cái để mưu sinh. Ông làm đủ mọi việc kiếm sống, nhưng luôn nung nấu những dự định, ý tưởng làm giàu của riêng mình. Năm 2001, hay tin Móng Cái thực hiện Dự án quốc phòng 327, với mục đích đưa dân ra vùng biên làm kinh tế, ông Liêm là một trong những người đầu tiên đăng ký. “Khi đó, nghề nuôi tôm cũng đã phát triển tại một số nơi, sau nhiều năm kinh doanh, sẵn chút vốn trong tay, nên tôi cũng muốn thử sức mình…” – ông Liêm kể lại.

Với ông Liêm, tiêu chuẩn 2ha để nuôi trồng thủy sản nằm trong dự án khi ấy là quá ít, trong khi với các hộ không chủ động về tài chính thì 2ha lại là quá nhiều. Chính vì vậy, ông Liêm đã mua lại tiêu chuẩn của một số hộ, gom lại được gần 10ha, sau đó tập trung vốn và vay tiền ngân hàng để thuê máy đắp ao.

Không một chút kiến thức nuôi tôm trong tay, ông khởi sự bằng cả 100.000m2 đất ven biển ngập đầy lau sậy; điện lưới lại chưa có, quạt nước phải chạy bằng máy nổ, một máy chỉ chạy được cho 1 ao… Bao nhiêu khó khăn có lúc tưởng như làm cho ông Liêm nản chí. Nhưng có vốn kiến thức cơ khí, ông Liêm mày mò làm bánh răng đảo chiều sử dụng cho hai ao nên đã giảm được đáng kể chi phí đầu tư và nhiên liệu chạy máy. Ông còn tranh thủ học hỏi kỹ thuật nuôi tôm từ bên Trung Quốc. Trời không phụ lòng người, những năm đầu nuôi tôm sú, tôm he Nhật Bản, nhờ chịu khó học hỏi và tìm hiểu kỹ thuật nên các vụ nuôi tôm của ông trúng lớn, thành công ngoài mong đợi.

Đầu tư nhiều, nhưng rủi ro ít

 choang voi ong chu quang ninh dau tu 80 ty dong nuoi tom sach hinh anh 2

Đường vào trang trại nuôi tôm của ông Liêm giờ đây đã trải nhựa, ôtô tải chạy bon bon, điện lưới kéo đến tận nơi. Ông cho biết: Hiện nay, hạ tầng nuôi toàn bộ gần 7ha khu nuôi tôm của gia đình đã được đầu tư hiện đại, với tổng mức đầu tư đến thời điểm này đã lên tới hơn 80 tỷ đồng, đảm bảo tiêu chuẩn VietGAP.

Hơn 10 năm nuôi tôm, Bùi Ngọc Liêm nức tiếng là người chưa từng gặp thất bại. Nhưng: “Tính mình không thích kêu ca nhiều. Vừa áp dụng khoa học, vừa từ kinh nghiệm bản thân để  xem xét, nhìn nhận mỗi khi gặp rủi ro, thất bại khi nuôi tôm, rồi rút ra bài học cho vụ tới” – ông Liêm tâm sự.

Theo ông Liêm, trong những vụ nuôi năm 2015, cơ sở nuôi tôm của gia đình ông cùng với nhiều hộ nuôi khác tại Móng Cái đã chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của tình hình dịch bệnh. Trong khi người nuôi tôm chỉ quan tâm đến các loại dịch bệnh như: Đầu vàng, đốm trắng, gan tụy… nhưng qua quan trắc, kiểm soát dịch bệnh tại cơ sở nuôi tôm của gia đình, ông Liêm đã phát hiện ra một loại vi trùng ký sinh khá phổ biến gây dịch bệnh trên tôm nuôi, và kiến nghị ngành chức năng tìm hướng xử lý dứt điểm.

Chính vì nguy cơ dịch bệnh với tôm lớn, từ năm 2016 ông Liêm chuyển sang đầu tư nuôi tôm trong nhà bạt, được thiết kế một cách khoa học từ hệ thống bể cấp nước, ao nuôi, khu xử lý môi trường… theo hình thức khép kín. Theo ông Liêm, mô hình nuôi tôm khép kín mặc dù mức đầu tư cao từ 600-700 triệu đồng/ao nuôi có diện tích 2.000m2, song hình thức nuôi này sẽ hạn chế được rủi ro đối với người nuôi tôm. Thời gian cho mỗi vụ nuôi cũng giảm đáng kể, vụ đông chỉ từ 90-100 ngày, vụ hè chỉ từ 70-80 ngày.

Như vậy, mỗi năm người nuôi tôm có thể nuôi được 3 vụ và năng suất tôm nuôi cũng cao hơn; năng suất bình quân đạt trên 10 tấn/ha khi nuôi chính vụ, còn nuôi trái vụ (vụ thu – đông) sẽ đạt 6-7 tấn/ha. Cái lợi khi nuôi tôm trái vụ là mặc dù sản lượng không lớn nhưng vào thời điểm đó tôm bán được giá hơn (khoảng 250.000 đồng/kg).


Bạn đang xem chủ đề hình ảnh con tôm tích trên website Haisantuoisong.net. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã giới thiệu ở trên sẽ hữu ích với bạn. Nếu bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!