hình ảnh bào ngư

Tổng hợp các bài viết thuộc chủ đề hình ảnh bào ngư xem nhiều nhất, được cập nhật mới nhất ngày 18/06/2021 trên website Haisantuoisong.net. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung hình ảnh bào ngư để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Các bài viết trong chủ đề hình ảnh bào ngư

Tìm thấy #332 tin bài liên quan hình ảnh bào ngư


【#1】Hòa Bình, Bà Rịa – Vũng Tàu hỗ trợ cho người nuôi cá bị thiệt hại

Tin tức thủy sản tổng hợp về khai thác thủy sản, nuôi trồng thủy sản, chính sách khuyến nông và tình hình dịch bệnh ở địa phương.
Bản tin thủy sản tổng hợp, tin thủy sản, tin tức thủy sản địa phương
Hình minh họa: Internet

1. Ninh Thuận: Tín hiệu vui từ khai thác thủy sản

Sở NN-PTNT Ninh Thuận cho biết, trong 6 tháng đầu năm 2017, toàn tỉnh có sản lượng khai thác thủy sản đạt 43.763 tấn, tăng 31,6% so với cùng kỳ. Trong đó: cá các loại là 42.390 tấn, giáp xác 117 tấn, nhuyễn thể 902 tấn và hải sản khác 353 tấn.

2. Nuôi cá Chạch thương phẩm có lợi nhuận cao

 nuôi trồng thủy sản, cá, nuôi cá, tin thủy sản

Được sự hỗ trợ về kỹ thuật và con giống của Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư tỉnh Quảng Bình, anh Lê Xuân Ngọc ở xã Tân Thủy, huyện Lệ Thủy mạnh dạn thử nghiệm mô hình nuôi cá chạch bùn thương phẩm.

Giữa tháng 4 năm nay, anh Ngọc đã vào trại giống ở Cần Thơ trực tiếp lấy 2.600 con cá chạch bùn về nuôi thả trên 750m2 ao lót bạt. Kết quả đến nay, cá chạch đã đạt trọng lượng khoảng 40 con/kg, tỷ lệ sống lên đến 98%. Theo ước tính, nếu tiếp tục nuôi đạt đến khối lượng thương phẩm là 30 con/kg, với giá thị trường từ 100.000 – 120.000 đồng/kg như hiện nay, mô hình nuôi cá chạch bùn sẽ thu được hiệu quả kinh tế cao.

3. Bà Rịa – Vũng Tàu: Doanh nghiệp bị buộc bồi thường hơn 5 tỷ đồng vì làm cá chết

TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu hôm qua tuyên buộc 9 doanh nghiệp chế biến hải sản ở xã Tân Hải, huyện Tân Thành bồi thường cho 33 hộ dân nuôi cá trên sông Chà Và hơn 5,4 tỷ đồng. Trong đó, công ty bồi thường cao nhất hơn 1,2 tỷ đồng, thấp nhất là 58 triệu đồng.

Xem thêm

4. Hòa Bình: Hỗ trợ các hộ nuôi cá lồng sau vụ cá chết bất thường ở hồ thủy điện Pleikrông

Ngày 3/8, UBND huyện Đăk Hà (Kon Tum) cho biết huyện đã xuất ngân sách gần 283 triệu đồng hỗ trợ 5 hộ dân ở thị trấn Đăk Hà và xã Đăk Mar có nuôi cá lồng trên lòng hồ thủy điện Pleikrông bị chết bất thường vào ngày 11 – 13/7.

Mức hỗ trợ này tuy chưa cao so với thiệt hại của người dân (hơn 2,3 tỷ đồng) nhưng cũng góp phần động viên, giúp họ thêm động lực vượt qua khó khăn, khôi phục sản xuất.

5. Cà Mau: Vẫn chưa xác định được chủ thể làm cá chết

Hiện tượng cá chết tại các tuyến sông: Gành Hào, Mương Điều, Bảy Háp, Kinh xáng Lương Thế Trân thời gian qua, nguyên nhân ban đầu là do hàm lượng ôxy trong nước thấp và mức độ ô nhiễm nguồn nước cao nên cá bị ngộ độc, đặc biệt là ngộ độc Amoni, Nitrit”, ông Châu Công Bằng – Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Cà Mau nhận định. Tại báo cáo số 887, ngày 1/8 của Sở NN&PTNT, do ông Châu Công Bằng ký ban hành ngày 1/8 khẳng định, qua phân tích mẫu nước tại những nơi trọng điểm cá chết trong thời gian qua, các yếu tố môi trường gây bất lợi trực tiếp lên đối tượng thủy sản đều vượt nhiều lần so với mức độ cho phép.

 nuôi trồng thủy sản, cá, nuôi cá, cá chết

Nước đen ngòm, ven bờ có thải xỉ than ở phía sau một cơ sở sản xuất nằm ngay ngã ba Hòa Trung, gần kề với Trạm Quan trắc thuộc Trung tâm Kỹ thuật – Công nghệ – Quan trắc Tài nguyên và Môi trường tỉnh.

(Theo Tepbac)


【#2】Hiệu quả mô hình kết hợp trồng sen xen canh cá, lúa

Giữa cánh đồng chiêm trũng, anh Đỗ Quang Bổng ở thôn Quy Hậu, xã Liên Thủy, huyện Lệ Thủy là một trong những người đầu tiên mạnh dạn áp dụng mô hình trồng cây sen quanh ruộng lúa cá và bước đầu đã mang lại kết quả.
Hiệu quả mô hình kết hợp trồng sen xen canh cá, lúa
Diện tích 1ha trồng sen của anh Đỗ Quang Bổng ở Quy Hậu, Liên Thủy, Lệ Thủy.

Mô hình của anh Đỗ Quang Bổng là thực hiện trồng sen ở rạch nước sâu bao quanh ruộng lúa – cá của gia đình. Theo anh Đỗ Quang Bổng, thời điểm xuống giống sen là đầu tháng 2 và đến tháng 9, 10 là bắt đầu thu hoạch. Xuống giống hơn một tháng, sen bắt đầu ra hoa và đến tháng thứ 3 là thu hoạch gương cho đến tháng 10. Sen trồng rất dễ, chi phí thấp mà năng suất cao hơn gấp nhiều lần trồng lúa.

Xen canh trồng lúa, nuôi cá, trồng sen vụ đông – xuân cho năng suất cao mà chi phí đầu vào thấp hơn so đất ruộng bình thường. Thị trường tiêu thụ sen lại rất rộng. Hiện nay, mỗi ngày gia đình anh hái khoảng 25 kg gương sen lấy hạt, bán ra thị trường được hơn 1 triệu đồng.

Đây là mô hình thiết thực, hiệu quả trong việc thực hiện chủ trương chuyển đổi, đưa các loại cây có giá trị kinh tế cao vào trồng, nhằm nâng cao thu nhập trên cùng một đơn vị diện tích canh tác.

Đình Hoàng (Đài TT-TH Lệ Thủy)


【#3】Xuất khẩu tôm sang Anh nhiều triển vọng

Anh là thị trường nhập khẩu tôm lớn nhất của Việt Nam trong khối EU, chiếm 4,8% tổng giá trị xuất khẩu tôm của Việt Nam đi các thị trường.

Xuất khẩu tôm sang Anh nhiều triển vọng

Hiệp hội chế biến xuất khẩu thủy sản (Vasep) cho biết, năm 2016, Anh là thị trường nhập khẩu tôm lớn nhất của Việt Nam trong khối EU. Sau khi tăng trưởng mạnh suốt cả năm 2015 và 3 quý đầu năm 2016, xuất khẩu tôm sang Anh trong quý cuối cùng của năm 2016 giảm 3,9%. Nhờ tăng trưởng tốt trong 3 quý đầu năm nên xuất khẩu cả năm vẫn tăng 4,2%.

Bước sang năm 2017, xuất khẩu sang thị trường này tăng trưởng dương trong tháng 1 trước khi giảm trong tháng 2 và 3. Trong 2 tháng 4 và 5, xuất khẩu tôm Việt Nam sang Anh phục hồi tăng mạnh lần lượt 62% và 150% so với cùng kỳ 2016. XK tôm Việt Nam sang thị trường này trong 5 tháng đầu năm nay đạt gần 59 triệu USD; tăng 34% so với 5 tháng đầu năm 2016.

Theo Vasep, xuất khẩu tôm Việt Nam sang Anh tăng trưởng tốt trong 5 tháng đầu năm nay do Anh đẩy mạnh nhập khẩu tôm nước ấm nhờ giá phải chăng để thay thế cho tôm nước lạnh. Giá tôm nước lạnh ngày càng tăng do các nước khai thác liên tục cắt giảm hạn ngạch khiến sản lượng sụt giảm.

Với tình hình như hiện nay Vasep dự báo xuất khẩu tôm Việt Nam sang Anh trong cả năm nay dự kiến vẫn tăng trưởng do những xáo trộn kinh tế và chính trị tại Anh khiến người dân tăng nhu cầu đối với tôm nước ấm có giá phải chăng.

Tùng Anh

Theo Thời đại


【#4】Để ngành thủy sản châu Á khỏe mạnh

Trong nuôi trồng thủy sản (NTTS), nghiên cứu và dinh dưỡng đóng vai trò rất quan trọng. Tại châu Á, vấn đề dinh dưỡng và thức ăn còn đang bị bỏ ngỏ. Các nhà máy chế biến thức ăn nhiều vô kể nhưng vẫn thiếu đội ngũ chuyên gia dinh dưỡng có thể giúp nhà máy phát triển phụ gia thức ăn nâng cao lợi nhuận mà vẫn đảm bảo dinh dưỡng tối ưu cho sức khỏe vật nuôi.

Nhiều người nuôi thủy sản hay hãng chế biến thức ăn vẫn cho rằng phụ gia thức ăn là những chi phí phụ và tốn kém. Họ cần phải thay đổi lại cách nhìn nhận này bởi phụ gia thức ăn thủy sản chính là công cụ hữu ích tạo ra các công thức thức ăn linh hoạt và góp phần cải thiện hiệu quả của thức ăn. Ví dụ: Chất ức chế hoạt động mycotoxin sẽ giúp giảm những tác động tiêu cực của mycotoxin lên một số nguyên liệu thức ăn, phytogenics và axít hữu cơ; từ đó cải thiện hiệu quả thức ăn và giảm tác nhân gây mầm bệnh ở đường ruột vật nuôi… Ngành cá hồi thành công nhờ sử dụng linh hoạt phụ gia thức ăn và đó cũng là lý do ngành này được so sánh với ngành chăn nuôi heo và gà về hiệu quả toàn diện.

Tuy vậy, ngành NTTS tại châu Á lại chưa sử dụng linh hoạt các loại phụ gia thức ăn, nên vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Nông dân châu Á vẫn còn “quá nặng nề” về giá thức ăn và hãng sản xuất thức ăn chỉ tập trung tạo ra các sản phẩm rẻ tiền để đánh vào tâm lý người nuôi. Nhưng điều mà cả người nuôi và công ty sản xuất thức ăn cần chú trọng chính là tính hiệu quả và đầu ra. Đó không đơn thuần là giá thức ăn mà đó là chi phí sản xuất. Khi đặt câu hỏi “để sản xuất được 1 kg cá, tôi cần phải chi bao nhiêu?” người nuôi phải tính toán chi phí sản xuất vượt lên giá thức ăn, đó sẽ là tỷ lệ chuyển đổi thức ăn, tỷ lệ tăng trưởng và môi trường. Tóm lại, tất cả đều chung một mục đích cuối cùng là tính lợi nhuận và chúng tôi gọi đây là “kinh tế dinh dưỡng”, nghĩa là bạn cần phải tìm kiếm giải pháp dinh dưỡng tối ưu để tối đa lợi nhuận.

Nuôi trồng thủy sản rủi ro hơn các loại gia súc, gia cầm vì có quá nhiều đối tượng nuôi. Ngành nuôi cá hồi đang làm rất tốt việc kiểm soát thức ăn, quản lý môi trường và ứng dụng công nghệ nuôi tiên tiến. Một khi đã lựa chọn được giải pháp dinh dưỡng, người nuôi cần phải khoanh vùng được đối tượng nuôi tiềm năng. Hiện nay, tôm, cá rô phi và cá da trơn đang được coi là các đối tượng nuôi phổ biến, lợi nhuận cao.

Điều quan trọng cuối cùng là cần phải giảm rủi ro dịch bệnh bằng cách phát triển kỹ năng quản lý trại nuôi. Công việc này đòi hỏi cần phải cải thiện quản lý môi trường nước khi nước ở một số nơi trên thế giới vẫn là nguồn tài nguyên có hạn. Ngoài ra, cũng cần phát triển nghề nuôi biển, nuôi nước lợ nhằm giảm phụ thuộc vào thủy sản nước ngọt.

(Theo Thủy sản Việt Nam)


【#5】Liên kết chặt chẽ phát huy thế mạnh vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL

“Cà Mau, TP. Cần Thơ, An Giang và Kiên Giang không chỉ được xác định là vùng kinh tế trọng điểm của khu vực ĐBSCL mà còn là 1 trong 4 vùng kinh tế trọng điểm của cả nước. Đây là vùng kinh tế có vị trí, vai trò quan trọng trong phát kinh tế – xã hội, đảm bảo quốc phòng – an ninh của cả nước”. Đó là nhận định của Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Nguyễn Tiến Hải, Chủ tịch Hội đồng vùng nhiệm kỳ 2017–2018, tại hội nghị Hội đồng vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL lấn thứ nhất, diễn ra ngày 12/7.

Các địa phương trong vùng đều có lợi thế, tiềm năng phát triển nuôi trồng, khai thác thủy sản, sản xuất lúa gạo, phát triển du lịch… Điều này thể hiện ở mức tổng thu ngân sách 6 tháng của 4 tỉnh trên 16.046 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu luôn duy trì ở con số 4 tỷ USD; trong 6 tháng có đến gần 2.000 doanh nghiệp được thành lập mới…

Nhiều hạn chế cần được tháo gỡ

Mặc dù là khu vực được đánh giá giàu tiềm năng và lợi thế, nhưng theo đánh giá của ông Nguyễn Tiến Hải thì, thời gian qua sự liên kết, phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau giữa các địa phương trong vùng chưa đạt được kết quả như mong muốn. Điều này đã ảnh hưởng đến việc phát huy thế mạnh của từng địa phương của vùng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, năng lực cạnh tranh của địa phương, của vùng.

Con tôm - một trong thế mạnh và có tỷ trọng lớn của vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL.

Con tôm – một trong thế mạnh và có tỷ trọng lớn của vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL.

Ông Nguyễn Tiến Hải còn chỉ ra những hạn chế hiện nay trong công tác phối hợp giữa các địa phương trong vùng là chưa có quy định, chế tài cũng như cơ chế, chế chính sách cụ thể; chưa có cơ chế phối hợp giữa các bộ ngành trung ương với các địa phương trong điều hành cơ chế chính sách của vùng. Chưa có sự ràng buộc trách nhiệm giữa các địa phương để phối hợp trong giải quyết các lĩnh vực cơ bản trong liên kết vùng như: quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch ngành, lĩnh vực quan trọng, quy hoạch kết nối hạ tầng giao thông… Từ đó, trong quá trình phát triển mỗi địa phương trong vùng lại chọn một ngành, lĩnh vực riêng lẻ, dựa trên lợi thế và thế mạnh của mình mà chưa tính đến sự phối hợp liên kết với nhau để tăng thêm sức cạnh tranh của vùng cũng như của mỗi địa phương.

Đánh giá về vai trò của 4 tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL, Phó trưởng Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ Nguyễn Trung Hiếu nhận định, đây là những địa phương có vị trí địa lý vô cùng quan trọng trong giao thương, phát triên kinh tế – xã hội của toàn vùng. Nếu tính cả sản lượng lúa, thủy sản đây là khu vực chiếm tỷ trọng lớn của cả nước. Tuy nhiên, hiện vùng vẫn còn khó khăn phải khắc phục, đặc biệt là giao thông. Nguồn vốn ngân sách đầu tư cho giao thông hiện nay chỉ mới đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu thực tế. Trong khi đó, biến đổi khí hậu ngày một diễn biến phức tập thì nó lại càng trở nên khó khăn và bức xúc.

Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội của các tỉnh, thành phố vùng còn yếu kém, thiếu đồng bộ, tính kết nối thấp. Nhiều danh mục dự án hạ tầng giao thông đã được bộ, ngành Trung ương và Chính phủ phê duyệt nhưng tiến độ triển khai còn chậm… Đây là lực cản lớn nhất trong liên kết vùng. Đặc biệt, Chủ tịch UBND TP. Cần Thơ Võ Thành Thống nhận định, thời gian qua do tác động của biến đổi khí hậu làm cho tình trạng sạt lở đất ven biển, ven sông, hiện tượng xâm mặn ngày một nghiêm trọng và đã trở thành thách thức lớn không phải của tỉnh hay thành phố nào mà là toàn vùng. Trong bối cảnh đó, đòi hỏi phải có sự phối hợp đồng bộ, chặc chẽ của cả vùng trong ứng phó và cùng phát triển.

Liên kết mang tính liên vùng

Tại hội nghị, đa phần các địa phương đều thống nhất kiến nghị Chính phủ điều chỉnh, bổ sung một số quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội, các quy hoạch ngành, lĩnh vực. Ông Mai Anh Nhịn, Phó chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang cho rằng, khi kiến nghị Chính phủ và các bộ, ngành điều chỉnh một số quy hoạch phát triển nông nghiệp thì cần phải có điều chỉnh về thủy lợi. Đây là lĩnh vực quan trọng quyết định thắng lợi cho sản xuất nên phải điều chỉnh cho phù hợp với thực tế diễn biến hiện nay. Ngoài ra, cần kiến nghị xin cơ chế chính sách chung của cả vùng và các tỉnh cần phải chủ động ngồi lại bàn nội dung liên kết cụ thể từng địa phương với nhau trên từng lĩnh vực cụ thể.

Khai thác thủy sản cũng là một trong những tiềm năng lớn của vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL.

Khai thác thủy sản cũng là một trong những tiềm năng lớn của vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL.

Đối với việc thu hút nguồn nhân lực cho cả vùng, nhất là các chuyên gia đầu ngành còn hạn chế ở các tỉnh, thành phố hiện nay (trừ TP. Cần Thơ): “Cần có sự phối hợp trong sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là các chuyên gia đầu ngành, còn làm theo kiểu hiện nay mỗi tỉnh đều có chính sách riêng để thu hút nguồn nhân lực thì vô tình đã tạo ra cuộc canh tranh giữa các tỉnh”, ông Nhịn chia sẻ.

Liên quan đến quy hoạch cho toàn vùng, ông Vũ Quang Các, Vụ trưởng Vụ quản lý quy hoạch, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, với đặc trưng của vùng là có độ cao trung bình từ 0,5-1,5 m, nếu một điểm bị tác động do biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng đến toàn vùng. Chính vì vậy, cần có nghiên cứu một cánh tổng thể mới có giải pháp giải quyết một cách đồng bộ. “Hiện Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang tiến hành lập quy hoạch tổng thể phát kinh tế – xã hội vùng ĐBSCL đến năm 2030 theo phương pháp tích hợp đa ngành từ nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ – thương mại, nuôi trồng thủy sản, giao thông… để giải quyết các vấn đề mang tính liên vùng, liên tỉnh”, ông Các cho biết thêm.

Đồng tình với quan điểm giải quyết vấn đề cần có sự liên kết toàn vùng và liên vùng, Phó trưởng Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ Nguyễn Trung Hiếu cho rằng, để khắc phục khó khăn hiện nay của vùng, ngoài việc xây dựng mối liên kết chặt chẽ với các địa phương trong vùng cần phải có mối liên kết với các vùng kinh tế khác như: Tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười, Bán đảo Cà Mau… để tránh sự trùng lấp và phát huy được thế mạnh của từng tiểu vùng.

(Theo Thủy sản Việt Nam)


【#6】Bàn giải pháp phát triển ngành hàng cá tra

Ngày 23/6, tại tỉnh Tiền Giang, Bộ NN&PTNT tổ chức hội nghị triển khai Nghị định 55 và bàn giải pháp phát triển bền vững ngành hàng cá tra.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Vũ Văn Tám phát biểu tại hội nghị.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Vũ Văn Tám phát biểu tại hội nghị  Ảnh: Minh Trí (TTXVN)

Số liệu của Tổng cục Thủy sản, tính đến ngày 20/6, vùng ĐBSCL thả nuôi 3.100 ha, thu hoạch 519.260 tấn cá tra nguyên liệu; tăng 1,3% và 2,2% so cùng kỳ năm 2016. Giá cá tra nguyên liệu loại 0,8 – 1 kg/con, trong 4 tháng đầu năm 25.000 – 27.000 đồng/kg, từ tháng 5 còn 21.500 – 23.000 đồng/kg và người nuôi luôn có lời.

Tổng kim ngạch xuất khẩu tính đến 15/6 hơn 582 triệu USD, tăng 2,7% so cùng kỳ năm 2016. Trong đó, sụt giảm mạnh ở hai thị trường chính là EU (giảm 24,8%), Mỹ (giảm 19,8%); nhưng tăng mạnh ở thị trường Trung Quốc – Hồng Kông và hiện thị trường này đứng đầu về kim ngạch nhập khẩu cá tra, chiếm hơn 20% tổng kim ngạch.

Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) phân tích những rào cản tại ba thị trường hàng đầu của cá tra. Thị trường Trung Quốc – Hồng Kông “giàu tiềm năng nhưng đang là điểm nóng thế giới về an toàn vệ sinh thực phẩm. Do đó, kiểm soát hàng qua đường tiểu ngạch là một vấn đề đang đặt ra”. Thị trường EU “cá tra đang phải cạnh tranh gay gắt với các loài cá thịt trắng bản địa, cá biển khác. Bị truyền thông một số nước bôi xấu, ảnh hưởng tới doanh số tiêu thụ”. Thị trường Mỹ “cá tra xuất khẩu khó khăn vì thuế chống bán phá giá cao và Đạo luật Nông trại Farmbill 2014”.

Hội nghị bàn nhiều về việc triển khai thực hiện tốt Nghị định 55 “Quản lý nuôi, chế biến và xuất khẩu sản phẩm cá tra” để nâng cao chất lượng cá tra, vượt qua được những rào cản của các thị trường. Nếu thực hiện tốt Nghị định 55, sẽ có thêm năng lực chủ động ứng phó với Đạo luật Nông trại Mỹ, không làm gián đoạn cá tra xuất khẩu sang thị trường này. Vì kể từ ngày 1/9/2017, Mỹ sẽ thực thi đầy đủ Đạo luật, theo đó, Cục Thanh tra an toàn thực phẩm sẽ kiểm tra lấy mẫu 100% lô hàng sản phẩm cá tra nhập khẩu.

Bộ NN&PTNT đang trình Chính phủ phê duyệt “Dự án nâng cao năng lực”, bao gồm duy trì hoạt động Nhóm công tác chung Việt Nam – Mỹ về Chương trình thanh tra cá da trơn và triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ kỹ thuật cho các khâu trong chuỗi cũng như hệ thống giám sát. Chú trọng xây dựng chương trình giá sát chất lượng nước nuôi và nước vận chuyển cá tra về cơ sở chế biến, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về sản xuất và thương mại cá tra phục vụ quản lý, truy xuất nguồn gốc.

Tổng cục Thủy sản đã có “Đề án sản phẩm quốc gia cá da trơn”, tập trung nguồn lực để tạo ra 2 dòng sản phẩm có giá trị đạt 2.000 tỷ đồng/năm. Đó là “Phát triển sản phẩm fillet cá tra chất lượng cao” và “Nghiên cứu chọn giống nâng cao chất lượng giống cá tra”. Những dự án khoa học công nghệ này được giao cho các doanh nghiệp thực hiện. Hy vọng, sẽ đạt được kết quả tốt, không như hai năm qua giao cho Vụ Khoa học Công nghệ và Môi trường thực hiện chưa đạt được kết quả như mong muốn. Việc nghiên cứu sản phẩm fillet chất lượng cao sẽ được doanh nghiệp thực hiện bằng nhiều dự án, từ sản xuất thức ăn đến nuôi cá, thu hoạch, vận chuyển và giết mổ. Kỳ vọng tạo ra được 1.000 tấn fillet khác biệt so với sản phẩm fillet thông thường và bán với giá cao hơn 50% hiện nay.

Theo: Thủy sản Việt Nam


【#7】Cà Mau: Nhiều mô hình nuôi tôm hiệu quả

Cà Mau là tỉnh có nhiều tiềm năng phát triển nông nghiệp, trong đó, thủy sản là thế mạnh; nhiều năm nay, Trung tâm Khuyến nông Cà Mau đã xây dựng và nhân rộng nhiều mô hình khuyến ngư rất hiệu quả, trong đó phải kể đến mũi nhọn con tôm.

Nhân rộng các mô hình nuôi tôm tại Cà Mau  Ảnh: Thiên Trường

Nhân rộng các mô hình nuôi tôm tại Cà Mau Ảnh: Thiên Trường

Trong công tác khuyến ngư, thời gian qua Trung tâm Khuyến nông Cà Mau đã xây dựng và nhân rộng các mô hình nuôi tôm mang lại giá trị kinh tế cao. Với tôm thẻ chân trắng, điển hình là mô hình nuôi thâm canh cải tiến năng suất cao; nuôi tôm thâm canh áp dụng công nghệ biofloc; nuôi thâm canh cải tiến kết hợp công nghệ biofloc; mô hình nuôi an toàn trong vùng dịch bệnh; nuôi kết hợp cá rô phi để cải thiện môi trường và hạn chế dịch bệnh. Với tôm sú, là mô hình quảng canh cải tiến ít thay nước; quảng canh cải tiến hay quảng canh kết hợp với các đối tượng như cua, sò huyết.

Khắc phục khó khăn

Mặc dù được đánh giá có nhiều lợi thế phát triển, thế nhưng, khi xây dựng và triển khai thực hiện các mô hình khuyến ngư, Trung tâm Khuyến nông Cà Mau cũng đã gặp nhiều khó khăn. Chẳng hạn như vấn đề lựa chọn nông dân thực hiện mô hình trình diễn. Cùng đó, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, nắng nóng kéo dài, mưa cục bộ đã tác động xấu đến hiệu quả sản xuất. Với con tôm, dịch bệnh liên tục xảy ra và diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ; môi trường đất, nước, không khí ngày càng ô nhiễm đã tác động sâu rộng đến hoạt động sản xuất đối tượng nuôi này. Thêm vào đó, người nông dân còn lúng túng trong việc áp dụng các quy trình công nghệ và tiêu chuẩn kỹ thuật mới, mặc dù đã qua các lớp tập huấn. Vấn đề nhân rộng mô hình nuôi tôm ứng dụng công nghệ mới còn gặp nhiều khó khăn do chi phí cao, việc tiếp nhận chuyển giao, chăm sóc, quản lý của người dân còn hạn chế vì người dân đã quen với phương pháp canh tác truyền thống.

Ngoài ra, công tác tổ chức lại sản xuất, xây dựng các mô hình kinh tế tập thể, trang trại còn hạn chế. Việc chỉ đạo và tổ chức thực hiện chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành và địa phương; trình độ quản lý, kinh phí hoạt động, vốn đầu tư cho sản xuất của các hợp tác xã, tổ hợp tác chưa đáp ứng được yêu cầu; Chưa hình thành được các tổ chức kinh tế tập thể làm ăn hiệu quả điển hình trên các lĩnh vực sản xuất; sự hỗ trợ và liên kết “4 nhà” trong sản xuất còn hạn chế khiến việc tiếp nhận, chuyển giao và nhân rộng còn gặp không ít khó khăn.

Mặt khác hiện nay, đa số các hộ sản xuất còn nhỏ lẻ, manh mún, chưa có sự liên kết nông hộ nên chi phí sản xuất tăng cao, sản phẩm làm ra chưa đảm bảo về lượng và chất nên dễ bị ép giá. Một số mô hình đạt hiệu quả cao sau khi kết thúc thí điểm nhưng chưa thực sự được quan tâm đã gây khó khăn cho việc tuyên truyền, nhân rộng… Những vấn đề này rất cần được khắc phục sớm để việc triển khai các chương trình khuyến nông, khuyến ngư thời gian tới hiệu quả cao hơn.

Nuôi tôm sú theo GAP

Hiện nay tại Cà Mau, trong các mô hình nuôi tôm thì mô hình nuôi quảng canh cải tiến và quảng canh cải tiến theo hướng VietGAP ngày càng phát triển, đạt 78.283 ha. Mô hình cho hiệu quả rất ổn định, năng suất bình quân đạt 500 – 800 kg/ha/vụ (trong khi nuôi quảng canh cải tiến truyền thống chỉ 300 – 350 kg/ha/vụ); lợi nhuận bình quân 30 – 40 triệu đồng/ha/vụ (nuôi truyền thống 20 – 25 triệu đồng/ha/năm).

Hiện nay, với sự hỗ trợ của Trung tâm Khuyến nông, tại một số nơi mô hình này ngày càng hoàn thiện quy trình và cho hiệu quả cao hơn rõ rệt, có hộ đạt năng suất 1 tấn/ha/vụ. Đây được coi là mô hình chiến lược, bền vững, ổn định lâu dài và đang tiếp tục khai thác, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quy trình nhằm tăng năng suất, hiệu quả và ổn định môi trường. Mặt khác, mô hình nuôi quảng canh cải tiến ít thay nước được đánh giá là phù hợp với điều kiện tự nhiên của Cà Mau, nhất là với các hộ ít đất. Ngoài ra, lợi thế của mô hình còn là vấn đề chi phí đầu tư thấp và dễ áp dụng kỹ thuật vào sản xuất.

Khảo sát thực tế cho thấy, điểm nổi bật của mô hình là việc tổ chức sản xuất và ý thức cộng đồng cao; có tác dụng tích cực trong cải thiện điều kiện môi trường nước vuông nuôi tôm, mật độ nuôi, quản lý được chất lượng nước, thức ăn tự nhiên, từ đó giúp cho hình thức nuôi thành công hơn.

Theo Thủy sản Việt Nam


【#8】Mô hình nuôi cá chép thương phẩm ở Hồng Phong

Đầu năm 2017, từ nguồn Quỹ HTND tỉnh, HND TX Đông Triều đã triển khai dự án nuôi cá chép thương phẩm tại khu nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) thôn Triều Khê (xã Hồng Phong, TX Đông Triều).

Mô hình nuôi cá chép thương phẩm của gia đình ông Nguyễn Văn Thư (xã Hồng Phong, TX Đông Triều) hứa hẹn cho thu nhập cao.

Mô hình nuôi cá chép thương phẩm của gia đình ông Nguyễn Văn Thư (xã Hồng Phong, TX Đông Triều) hứa hẹn cho thu nhập cao.

Trong khuôn khổ dự án, 10 hộ nông dân được vay vốn ưu đãi với mức 50 triệu đồng/hộ (trong thời gian 2 năm), được hỗ trợ, hướng dẫn về quy trình, kỹ thuật nuôi cá chép. Thời điểm này dù chưa đánh giá được hiệu quả của dự án (thời gian nuôi thường là 1 năm), song bước đầu cho thấy cá chép sinh trưởng và phát triển tốt; quan trọng hơn là tác động tích cực, khuyến khích các hộ nông dân hăng say lao động sản xuất, phát triển các mô hình kinh tế nông nghiệp.

Vùng NTTS Triều Khê được chuyển đổi từ vùng trồng lúa kém hiệu quả. Nhờ địa hình thuận lợi, tận dụng được nguồn nước ra vào nơi cửa sông, cải tạo đất đai của bà con nơi đây, nên Triều Khê ngày càng phù hợp với các mô hình nuôi cá nước ngọt. Tuy nhiên, do mới đi vào sản xuất, người dân còn nhiều khó khăn, nên chưa có nguồn lực đầu tư, mở rộng sản xuất. Bởi vậy, việc triển khai dự án nuôi cá chép thương phẩm được coi là một trợ lực cả về vật chất và tinh thần cho nông dân ở đây. Ông Nguyễn Quang Hồng, Chủ tịch HND xã Hồng Phong, cho biết: Triều Khê có điều kiện để NTTS, tuy nhiên, do xuất phát là vùng chuyển đổi từ mô hình trồng lúa kém hiệu quả, nên NTTS còn khá mới mẻ, nhất là đối với các mô hình, đối tượng nuôi mới. Dự án nuôi cá chép thương phẩm nói trên, nông dân được hỗ trợ cả về vốn và kỹ thuật, đúng những yếu tố, điều kiện nông dân đang thiếu và yếu, đang cần. Bởi vậy, các hộ dân tham gia đều rất phấn khởi, nếu dự án mở rộng thì còn nhiều hộ khác mong muốn được tham gia… Từ tháng 1-2017, 10 hộ dân đã chủ động chuẩn bị về vốn đối ứng (khoảng 50 triệu đồng/mô hình) để cải tạo ao chuôm, đầu tư con giống, thức ăn cho cá…

Nhờ hướng đi đúng của HND thị xã và HND xã Hồng Phong cùng sự tích cực vào cuộc của các hộ nuôi, nên mô hình nuôi cá chép được thực hiện đúng cơ cấu mùa vụ, đầu tư ban đầu tốt, quá trình chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật, từ đó cá sinh trưởng và phát triển tốt, trọng lượng mỗi con tăng nhanh, đều, đến thời điểm này đạt khoảng 0,7kg/con. Ông Nguyễn Văn Thư, một trong 10 hộ tham gia dự án, cho biết: Với tốc độ sinh trưởng và phát triển như trên, dự đoán đến vụ thu hoạch sẽ đạt 1,5-2kg/con, cao so với các mô hình nuôi cá chép hiện nay. Cá chép do được nuôi theo quy trình nên sức đề kháng bệnh tật cao, hoàn toàn có thể cho doanh thu, lợi nhuận cao, giúp nông dân cải thiện cuộc sống. Hiện nay do là năm đầu tiên nuôi cá chép thương phẩm, còn mang tính thử nghiệm, nên một số mô hình nuôi kết hợp thêm một số loại cá khác, như trắm, trôi, rô phi… Song theo định hướng, năm sau các hộ dân sẽ triển khai thả tập trung 1 đối tượng cá chép, qua đó các mô hình nuôi sẽ nâng cao năng suất, sản lượng, mang lại giá trị, lợi nhuận cao.

Mặc dù đã đạt được những kết quả bước đầu, tuy nhiên, mô hình nuôi cá chép thương phẩm vẫn cần được tăng cường giám sát của HND thị xã và HND xã Hồng Phong, chăm sóc theo đúng quy trình, kịp thời phát hiện và xử lý trong trường hợp cá có dịch bệnh… Có như vậy mô hình kinh tế nhiều ý nghĩa này mới đạt được kết quả như mong đợi, có sức lan toả, nhân rộng trên địa bàn.

Việt Hoa
Theo Báo Quảng Ninh


【#9】Quy trình sản xuất cá ngạnh

Quy trình sản xuất cá ngạnh dưới đây được xây dựng dựa trên kết quả nghiên cứu Đề tài “Thử nghiệm sinh sản cá ngạnh Cranoglanis bouderius (Richardson, 1846) trong điều kiện nhân tạo” của ThS Nguyễn Đình Vinh, ThS Tạ Thị Bình (Khoa Nông – Lâm ngư, Trường ĐH Vinh) cùng PGS.TS Nguyễn Hữu Dực (Khoa Sinh học, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội) và TS Nguyễn Kiêm Sơn (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật).

Trên thế giới, một số nước đã sản xuất được giống cá ngạnh   Ảnh: farmflavor.com

Trên thế giới, một số nước đã sản xuất được giống cá ngạnh Ảnh: farmflavor.com

1. Chọn cá bố mẹ

Với cá cái: Có khối lượng 1,2 – 1,5 kg/con, ngoại hình phát triển cân đối, không bị dị tật, không có biểu hiện mắc bệnh. Cá có bụng tròn mềm, mặt bụng có màu phớt hồng, mẩu sinh dục sưng tấy có màu đỏ, thăm trứng cho kết quả trứng đã tách rời, màu xanh ngọc.

Với cá đực: Ngoại hình phát triển cân đối, không có dị tật, không có biểu hiện mắc bệnh, có khối lượng 0,8 – 1 kg/con. Quan sát dấu hiệu tuyến sinh dục ngoài: cá có bụng căng tròn, gai sinh dục sưng to, màu hồng đỏ để cho sinh sản. Tỷ lệ đực cái là 1:1.

2. Nuôi vỗ cá bố mẹ

Điều kiện nuôi vỗ: Nuôi vỗ trong lồng trên sông, kích thước (2,5×1,5×1,3) m. Độ sâu nước nơi đặt lồng >1,5 m. Lồng nuôi được neo cố định. Mặt lồng cao hơn mực nước sông 0,3÷- 0,5 m. Lồng bè đặt tránh nơi có luồng nước ngầm, xói lở, bồi tụ, có quá nhiều phù sa. Nước sông nơi đặt lồng bè không bị ảnh hưởng trực tiếp của các nguồn nước thải công nghiệp và nguồn nước ô nhiễm khác. Nhiệt độ nước trong thời gian nuôi vỗ dao động 22 – 320C; pH 7,4 – 8,5.

3. Chăm sóc và quản lý cá bố mẹ

Cho cá bố mẹ ăn 1 lần/ngày, vào chiều tối. Khối lượng thức ăn cung cấp bằng khoảng 3÷- 5% khối lượng cá. Theo dõi hoạt động bắt mồi của cá để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp. Sử dụng 100% thức ăn công nghiệp có hàm lượng protein 40%. Hàng ngày, quan sát hoạt động của cá bố mẹ, theo dõi các yếu tố môi trường nước (nhiệt độ, pH) và thường xuyên vệ sinh lồng nuôi.

4. Kích dục tố và phương pháp tiêm

Loại kích dục tố và liều lượng: Sử dụng phối hợp kích dục tố gồm LRH-A (Luteotropin Releasing Hormoned Analog) và Dom – Motilium với liều lượng ( 30 µg LRH-A + 9 mg DOM)/kg cá cái hoặc sử dụng HCG với liều lượng 2.500 IU HCG/kg cá cái để kích thích sinh sản cá ngạnh. Liều lượng tiêm cho cá đực bằng 1/3 liều dùng cho cá cái.

Phương pháp tiêm: Đối với cá cái, tiêm 2 lần (1 liều sơ bộ, 1 liều quyết định), liều sơ bộ bằng 1/3 tổng liều, liều quyết định bằng 2/3 tổng liều, tiêm vào cơ lưng, khoảng cách giữa 2 lần tiêm là 24 giờ; đối với cá đực tiêm 1 lần vào cơ lưng, liều tiêm bằng 1/3 tổng liều. Nhiệt độ nước tại thời điểm tiêm kích dục tố cho cá trong khoảng 25 – 300C.

5. Thụ tinh và ấp trứng

Phương pháp thụ tinh thô

Chuẩn bị dụng cụ: Dụng cụ phục vụ cho đẻ vuốt cá gồm: chậu men, nước sạch, bát sứ sạch khô, dụng cụ giải phẫu, cối chày sứ, khăn bông và bể ấp trứng có sục khí. Sau khi tiêm kích dục tố cho cá đực và cá cái, kiểm tra bằng cách vuốt nhẹ vào bụng cá cái, gần lỗ sinh dục thấy trứng chảy ra từ lỗ sinh dục thì tiến hành thụ tinh cho trứng.

Với cá cái, trứng được vuốt vào bát men khô sau đó dùng tuyến sinh dục của cá đực đã được cắt nhỏ nghiền nát trong cối sứ để trộn vào với trứng (khi cá bắt đầu rụng trứng, tiến hành vuốt trứng và mổ cá đực lấy tuyến sinh dục, dùng kéo cắt nhỏ, công việc này được tiến hành song song), dùng lông gà đảo đều trứng khoảng 1 – 2 phút cho trứng được thụ tinh. Trứng được rửa bằng nước sạch sau đó đưa vào dụng cụ ấp nở.

Phương pháp cho cá đẻ tự nhiên

Sau khi cá đực và cá cái được tiêm kích dục tố, cho cá đực và cá cái đẻ tự nhiên trong bể composite kích thước 2 m3, trứng tự thụ tinh. Tuy nhiên, hình thức thụ tinh khô cho kết quả tốt hơn trong sản xuất giống cá ngạnh.

Phương pháp ấp trứng

Ấp trong thùng xốp có sục khí. Kích thước thùng xốp (0,4×0,3×0,3) m. Sục khí thường xuyên để đảm bảo DO > 4 mg/lít. Mật độ ấp trứng: 9 – 12 trứng/cm2. Trong quá trình ấp phải đảm bảo nước sạch. Lưu tốc nước được chỉnh bằng van khoảng 0,2 lít/giây sao cho trứng được đảo nhẹ nhàng. Nhiệt độ duy trì trong quá trình ấp 28 – 300C. Trong quá trình ấp thường xuyên theo dõi trứng trong thùng loại bỏ trứng hỏng tránh hiện tượng nấm phát triển trên trứng hỏng lây sang trứng có chất lượng tốt.

6. Ương cá bột lên cá hương

Ương trong bể composite kích thước (1x1x1) m. Thời gian ương nuôi là 28 ngày, mật độ ương là 500 con/m2.

Môi trường nước bể trong quá trình phải đảm bảo các điều kiện sau: Nhiệt độ 25 – 300C, pH 7 – 8. Hàm lượng ôxy hòa tan > 3 mg/lít. Thức ăn: Hàng ngày vớt Daphnia, Monia cho cá ăn với mật độ cá thể 100.000 cá thể/lít.  Sau 2 – 3 ngày ương (3 – 4 ngày tuổi), cho cá ăn bổ sung thêm thức ăn chế biến (70% bột cá nhạt  + 20% lòng đỏ trứng), từ ngày thứ  10 trở đi kết hợp cho ăn giun quế. Cho cá ăn 2 lần/ngày, buổi sáng cho cá ăn lúc 5 – 6 h và buổi chiều cho cá ăn lúc 17 – 18 h.

Vận hành hệ thống ương: Thường xuyên kiểm tra hệ thống cấp nước và sục khí  đảm bảo vận hành liên tục trong quá trình ương. Xi phông bể trước hàng này để loại bỏ thức ăn dư, các chất bẩn lắng đọng và xác cá chết. Thường xuyên kiểm tra tình hình hoạt động và mức ăn của cá, chất lượng nước để kịp thời điều chỉnh.

7. Ương cá hương lên cá giống

Cá hương 30 ngày tuổi được ương trong bể composite kích thước từ (1x1x1) m, có hệ thống cấp nước và sục khí đảm bảo vận hành liên tục trong quá trình ương.

Trong thời gian ương nuôi thường xuyên vệ sinh bể nuôi, duy trì chế độ sục khí trong bể. Môi  trường nước bể trong quá trình ương đảm bảo các chỉ tiêu sau:  nhiệt độ 25 – 300C, pH 7 – 8. Hàm lượng ôxy hòa tan > 3 mg/lít. Sử dụng giun quế làm thức ăn, lượng cho ăn hàng ngày 5 – 7% khối lượng cá. Khi cho ăn, thức ăn phải rải đều xung quanh thành bể, để cá có thể  tiếp cận dễ dàng. Cho ăn mỗi ngày 2 lần, sáng 6 – 7h chiều 16 – 17h hàng ngày.

Nguồn: Theo Thủy sản Việt Nam


【#10】Gỡ khó cho chuỗi giá trị cá ngừ

Sau hai năm triển khai thực hiện, Đề án thí điểm tổ chức khai thác, thu mua, chế biến, tiêu thụ cá ngừ theo chuỗi tại 3 tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa (giai đoạn 2015 – 2020) đã thu được những kết quả đáng kể, tuy nhiên, Đề án cũng bộc lộ nhiều điểm yếu.

Ngư dân Phú Yên vận chuyển cá ngừ về bến  Ảnh: Ngọc Chung

Ngư dân Phú Yên vận chuyển cá ngừ về bến Ảnh: Ngọc Chung

Hiệu quả chưa xứng

Theo Bộ NN&PTNT, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa là những tỉnh có tiềm năng khai thác cá ngừ đại dương lớn nhất ở nước ta. Đến nay, 3 tỉnh đã có khoảng 2.372 phương tiện chuyên khai thác cá ngừ, sản lượng đánh bắt hằng năm đạt 100 nghìn tấn. Đến nay trên địa bàn 3 tỉnh đã hình thành trên 10 doanh nghiệp tổ chức chế biến, tiêu thụ sản phẩm. Tổng sản lượng xuất khẩu đạt gần 500 triệu USD.

Tại Phú Yên, ghi nhận của Sở NN&PTNT tỉnh cho thấy, hiện địa phương có hơn 1.100 tàu cá công suất từ 90 CV trở lên chuyên đánh bắt xa bờ, trong đó, khoảng 345 tàu công suất từ 400 CV và khoảng 580 tàu chuyên khai thác cá ngừ. Sản lượng khai thác năm 2016 của tỉnh đạt khoảng 57.000 tấn, trong đó, cá ngừ đại dương khoảng 4.300 tấn. Địa phương cũng hình thành hai mô hình thí điểm chuỗi liên kết khai thác, thu mua, chế biến, tiêu thụ cá ngừ của Công ty CP Bá Hải và Công ty TNHH Nguyễn Hưng. Tuy nhiên, sau hơn một năm triển khai đã bộc lộ một số khó khăn như năng lực tài chính của Công ty CP Bá Hải; một số doanh nghiệp thu mua hải sản chưa quan tâm đến hiệu quả, việc thu mua cá ngừ đại dương còn theo hình thức mua xô do vậy chưa tạo được động lực để ngư dân đầu tư công nghệ khai thác, bảo quản, nâng cao chất lượng sản phẩm mà chủ yếu chạy theo số lượng. Ngoài ra, các dịch vụ nước đá, xăng dầu còn manh mún, nhỏ lẻ, không tập trung nên không kiểm soát được chất lượng, luồng lạch thường xuyên bị bồi lấp nên khó khăn cho tàu thuyền cập cảng để tiêu thụ sản phẩm…

Cùng với đó, hạ tầng nghề cá còn yếu kém, chưa hiện đại. Các cảng cá ngừ chủ yếu theo dạng truyền thống, sử dụng lại cảng cá đã có sẵn nên cơ bản là mất vệ sinh. Nhiều doanh nghiệp đến thu mua thì họ lo về việc đảm bảo an toàn vệ sinh hay không, nên dẫn đến giá cả sẽ giảm bớt. Đại diện các ngư dân thì cho rằng, họ đang thiếu vốn đầu tư, nên chỉ một số ít được doanh nghiệp trong chuỗi tiến hành trang bị. Nhưng câu cá tốt về bờ lại bị mua đổ đồng với các loại cá kém chất lượng, vì thế một số tàu cứ an phận làm “kiểu cũ” cho… đỡ mất công.

Nhận định về Đề án này, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường cho rằng, thực tế, một số chuỗi tiêu thụ cá ngừ đã hiệu quả, khẳng định sự năng động và trách nhiệm của doanh nghiệp – ngư dân trong làm ăn liên kết. Song nhìn chung, tính chất liên kết của nhiều mô hình vẫn còn rời rạc và sự lan tỏa chưa cao, chưa phát huy hết năng lực thành viên trong chuỗi. Hiệu quả kinh tế liên kết vẫn còn cách biệt quá xa so với tiềm năng thực tế. Vì thế, thu nhập từ ngư dân đến doanh nghiệp chưa cao, nhất là các ngư dân.

Nâng tầm chất lượng

Ông Nguyễn Tri Phương, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Phú Yên cho biết, địa phương đang tập trung cơ cấu lại đội tàu khai thác, thu mua cá ngừ theo Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh. Sở NN&PTNT tiếp tục vận động các công ty như Lợi An, Hồng Ngọc, Tập Đoàn Biển… tham gia chuỗi liên kết cá ngừ. Việc hình thành đội tàu dịch vụ hậu cần trên biển là rất cần thiết, Phú Yên sẽ triển khai tốt hơn Nghị định 67 để khuyến khích phát triển đội tàu này. Thời gian tới, tỉnh sẽ tập trung nâng cấp và nạo vét luồng lạch vào các cảng cá, phát triển các cơ sở đóng sửa tàu thuyền đảm bảo đủ năng lực phục vụ cho đội tàu khai thác xa bờ. Cùng đó, kiến nghị Bộ NN&PTNT chỉ đạo Viện Nghiên cứu Hải sản nâng cao độ chính xác trong dự báo ngư trường, hướng dẫn áp dụng công nghệ phát hiện đàn cá bằng hệ thống viễn thám để nâng cao hiệu quả chuyến biển. Đồng thời, tỉnh cũng kiến nghị Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương sớm triển khai hỗ trợ nâng cấp cơ sở hạ tầng các cảng cá và đầu tư xây dựng các cảng cá ngừ chuyên dụng, chợ đấu giá cá ngừ của tỉnh…

Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Vũ Văn Tám cho biết, qua 2 năm triển khai, Đề án thí điểm tổ chức khai thác, thu mua, chế biến, tiêu thụ cá ngừ theo chuỗi, hiệu quả bước đầu đó là nhận thức của ngư dân và doanh nghiệp tham gia chuỗi được nâng lên rõ rệt, với mục tiêu làm sao tăng được giá trị của sản phẩm sau khai thác. Mô hình do một doanh nghiệp đứng ra tổ chức chuỗi và quản lý từ đầu đến cuối đã thể hiện sự thành công nhất định. Đây là mô hình mà Đề án thí điểm rất mong đợi, tuy nhiên qua thực tế thì chỉ có những doanh nghiệp lớn mới làm được. Đối với mô hình thu mua, chế biến, tiêu thụ gắn kết với các chủ tàu cũng là mô hình thành công bước đầu đó là bỏ qua khâu trung gian nậu vựa. Còn đối với mô hình liên kết giữa doanh nghiệp thông qua nậu vựa để thu mua sản phẩm của ngư dân cũng đạt được sự thành công đó là khâu thu mua, tiêu thụ có tổ chức bài bản hơn và đây cũng là mô hình trong thời kỳ quá độ để đi đến hoàn thiện.

Tuy nhiên, sự liên kết theo chuỗi trong 2 năm qua cũng chỉ là thành công bước đầu, chưa hình thành được một xu hướng cụ thể, sản phẩm khai thác được chủ yếu cũng chỉ dừng lại ở mức sản phẩm thô, chưa có chế biến sâu, doanh nghiệp và ngư dân chưa làm chủ được công nghệ nên giá trị thực sự của con cá ngừ chưa được nâng lên. Bộ NN&PTNT đang phối hợp với các tỉnh triển khai đề án thí điểm để đánh giá lại từng mô hình, những vấn đề chưa phù hợp sẽ được điều chỉnh trong thời gian tới.

Nguồn: Theo Thủy sản Việt Nam


Bạn đang xem chủ đề hình ảnh bào ngư trên website Haisantuoisong.net. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã giới thiệu ở trên sẽ hữu ích với bạn. Nếu bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!