giá mực khô tại hải tiến thanh hóa

Tổng hợp các bài viết thuộc chủ đề giá mực khô tại hải tiến thanh hóa xem nhiều nhất, được cập nhật mới nhất ngày 25/09/2021 trên website Haisantuoisong.net. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung giá mực khô tại hải tiến thanh hóa để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Các bài viết trong chủ đề giá mực khô tại hải tiến thanh hóa

Tìm thấy #111 tin bài liên quan giá mực khô tại hải tiến thanh hóa


【#1】Giới thiệu Website cho thuê và cung cấp Du Thuyền Cano Mô tô nước

Ông Giàu Yacht – lĩnh vực Du thuyền, cano, mô tô nước,.v.v.. là một lĩnh vực kinh doanh khác của Ông Giàu ngoài việc chuyên cung cấp hải sản tươi sống. Hướng đễn phục vụ và đáp ứng nhu cầu khách hàng được tiện lợi hơn, website Onggiauyacht.com ra đời.

Thông tin về Website Onggiauyacht.com dịch vụ tàu thuyền

Công ty Ông Giàu không ngừng lớn mạnh và phát triển với nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau. Kết hợp với sự phát triển và tiến bộ của khoa học công nghệ, ngày nay, mua hàng bạn chỉ cần có Internet. Website Onggiauyacht.com ra đời với mục đích hướng đến thông tin cụ thể và nhanh chóng cho khách hàng về các dịch vụ phương tiện đi biển, sông,.v.v.

Cho thuê bán du thuyền cano chất lượng uy tín

Cho thuê bán du thuyền cano chất lượng uy tín

Tàu đánh bắt cá là nhu cầu chính của các ngư dân vùng biển. Trong khi đó, Việt Nam ta nổi tiếng với đường bờ biển dài 3260km rất tốt cho việc phát triển nghề đánh bắt cá. Do đó nhu cầu có được những chiếc tàu thuyền đánh cá chất lượng và an toàn là rất cao. Tại Ông Giàu Yacht có cung cấp đầy đủ các loại tàu thuyền đánh cá, các kích thước và bộ máy động cơ an toàn với giá thành hợp lý. Chúng tôi không cam kết về giá thành bởi chúng tôi qua tâm về chất lượng hơn. Một nghề cần sự an toàn phải có những phương tiện đi lại an toàn nhất.

Ngoài ra, với những nhu cầu như phục vụ du lịch, việc tìm mua du thuyền hay các khu du lịch biển mua moto nước, cano,.v.v.. là điều hết sức thông thường. Ông Giàu Yacht có cung cấp bán các loại du thuyền cao cấp, các mẫu mã cano mới nhất, các mô tô nước hoạt động hoàn hảo, mẫu mã đẹp.

Giới thiệu các dịch vụ đang cung cấp của Ông Giàu Yacht

Với những thông tin cụ thể tại Website, bạn có thể tham khảo ngay tức khắc mà chẳng cần đi đâu xa. Khi có nhu cầu cần được tư vất, hãy liện hệ ngay với Ông Giàu Yacht qua Hotline để được hộ trợ nhanh nhất, sớm nhất để đáp ứng nhu cầu khách hàng.

– Website: http://onggiauyacht.com/

– Email: [email protected]

Các dịch vụ hiện có của Ông Giàu Yacht về Du thuyền, cano, mô tô nước

Các dịch vụ hiện có của Ông Giàu Yacht về Du thuyền, cano, mô tô nước

Ông Giàu Yacht đang có cung cấp các dịch vụ:

Bán tàu thuyền cano, mô tô nước các loại

– Bán vật dụng đi biển hiện đại, an toàn: ống thờ, bình oxi, chân vịt,.v.v..

– Cung cấp dịch vụ cho thuê tàu thuyền các loại

Chúng tôi luôn thường trực hotline và email để giúp bạn nhận được các phản hồi giải đáp thắc mắc nhanh chóng, dịch vụ tận tình. Làm hải lòng khách hàng về dịch vụ và thái độ cùng chất lượng sản phẩm chính là phương châm hoạt đông của Ông Giàu Yacht. Chúc các bạn có được những sản phẩm dịch vụ du thuyền cano, thuê được các tàu thuyền giá cả hợp lý, chất lượng hoàn hảo.


【#2】Khai thác thủy sản Thái Lan đang phải vật lộn với sự giám sát quốc tế

Tất cả những người tham gia vào ngành xuất khẩu thủy sản béo bở của Thái Lan đang cảm nhận được ảnh hưởng của một mối đe doạ cấm nhập khẩu các sản phẩm thủy sản của Thái vào Liên minh châu Âu vào tháng 4 năm 2015 trừ khi khu vực trị giá 5,5 tỷ USD của nước này chấm dứt các hoạt động đánh bắt thủy sản có hại cho môi trường và các hành vi lạm dụng lao động.
Ngành thủy sản Thái Lan đang phải vật lộn với sự giám sát quốc tế
Hình minh họa. Nguồn Internet

Theo các số liệu của Ủy ban châu Âu, EU đã nhập khẩu 426 triệu Euro (496,5 triệu USD) các sản phẩm thủy sản từ Thái Lan vào năm 2016 – giảm đáng kể so với 476 triệu Euro của năm 2015. Tuy nhiên, đây vẫn là thị trường xuất khẩu thủy sản lớn thứ 3 của Thái Lan sau Hoa Kỳ và Nhật Bản. EU tiêu thụ 12% trong số 1,8 triệu tấn hàng thủy sản Thái Lan xuất khẩu hàng năm. Bằng việc ban hành một “thẻ vàng” để cảnh báo các biện pháp trừng phạt, EU hy vọng sẽ buộc chính phủ được quân đội hậu thuẫn của Thái Lan chấm dứt hoạt động đánh bắt bất hợp pháp, không được báo cáo và không được kiểm soát (IUU) và cải thiện các tiêu chuẩn lao động. Brussels đã duy trì áp lực từ đó, lặp lại mối đe dọa của nó sau khi tiến hành các đánh giá định kỳ và cử các phái đoàn kiểm tra chính thức.

Sau cuộc thăm dò mới nhất của các nhà điều tra EU trong hai tuần vào tháng 7/2017, các quan chức Thái Lan đã bày tỏ sự nghi ngờ rằng bất kỳ lệnh cấm nào cũng sắp xảy ra. Thủ tướng Prayuth Chan-ocha nói với các phương tiện truyền thông địa phương sau khi các quan chức EU đã gặp các nhà chức trách Thái Lan rằng: “Chúng tôi có vấn đề về mọi khía cạnh, vì vậy chúng tôi phải đối mặt với sự tiến triển chậm chạp”. Chính phủ đã thực thi các luật mới, ông nói, trong khi lưu ý rằng “có một số sự phản đối từ những người khai thác thủy sản bất hợp pháp”.

Áp lực của EU ít nhất đã thúc giục chính phủ Thái Lan thành lập một trung tâm chỉ huy thống nhất nhằm vào đánh bắt bất hợp pháp. Hải quân đã được triển khai để theo dõi những người vi phạm và đã thành lập một hệ thống theo dõi chặt chẽ tại cảng “Port-in-Port-Out” để kiểm tra các tàu đánh cá bằng lưới kéo trong nước và nước ngoài đưa thủy sản đánh bắt đến cảng Thái Lan. Nhưng chế độ này chỉ thành công trong việc thuyết phục 18.000 trong số khoảng 30.000 tàu đánh cá bằng lưới kéo địa phương đăng ký thuyền của họ và cài đặt các cơ chế giám sát trên tàu để xác định nguồn gốc thủy sản đánh bắt. Đây là một yêu cầu quan trọng để xác nhận rằng thủy sản đánh bắt không vi phạm các tiêu chuẩn IUU của EU.

Nhưng ít nhất đã có sự thay đổi trong vấn đề này. Trong Tháng 7/2017, Thai Union Group, nhà sản xuất các sản phẩm cá ngừ đóng hộp lớn nhất thế giới đã ký một thỏa thuận vào ngày 11 tháng 7 với Greenpeace, tổ chức phi chính phủ về môi trường toàn cầu, để cải tiến chuỗi cung cấp toàn cầu cho cá ngừ. Người khổng lồ về thủy sản, báo cáo doanh số bán hàng toàn cầu là 134 tỷ baht (4 tỷ USD) vào năm 2016, đã đồng ý giảm “các hoạt động khai thác phá hoại”, tăng cường hỗ trợ “đánh bắt bền vững” hơn và giúp bảo vệ các công nhân làm việc trong ngành thủy sản.

Ông Thirapong Chansiri, Chủ tịch và Giám đốc điều hành của Thai Union, nói với các lãnh đạo doanh nghiệp tại diễn đàn doanh nghiệp toàn cầu Nikkei Asia300 ở Bangkok vào giữa tháng Bảy: “Thai Union bây giờ là bạn tốt của Greenpeace. Các tổ chức phi chính phủ đã chỉ trích chúng tôi, nhưng chúng tôi không thể bỏ đi”, ông lưu ý, đề cập đến cam kết của Thai Union nhằm theo đuổi đánh bắt bền vững. Theo thỏa thuận ký kết với Greenpeace, việc thực hiện lời hứa này sẽ mất khoảng 750.000 USD một năm.

Mục tiêu của nhà hoạt động

Sự thay đổi cốt lõi của Thai Union đã diễn ra sau một cuộc vận động kéo dài hai năm của tổ chức phi chính phủ chống lại những gì họ tuyên bố là những hoạt động đánh bắt và thực hành lao động phi đạo đức. Các nhà hoạt động cho biết Thai Union có vai trò then chốt trong việc xác định tương lai của các đại dương trên thế giới vì chuỗi cung ứng cá ngừ quốc tế rộng lớn của mình. Tara Buakamsri, người đứng đầu Greenpeace Đông Nam Á, cho biết: “Thai Union đã có một bước tiến quan trọng để đi đầu làm mẫu, nhưng cam kết của nó chỉ mới bắt đầu”.

Ngành thủy sản Thái Lan cũng đang bị kiểm soát chặt chẽ từ Hoa Kỳ, nước đưa Thái Lan vào “danh sách theo dõi” hàng năm trong bản báo cáo về tình trạng buôn bán người hàng năm, trích dẫn những hành động ngược đãi đối với người lao động làm việc trên các tàu đánh cá Thái Lan và các nhà máy chế biến thủy sản.

(Theo asia.nikkei.com)


【#3】Châu Âu: Gắn kết thủy sản và kinh tế du lịch

Ngành du lịch đã tạo ra 2,6 triệu việc làm cho cư dân ven biển trên toàn châu Âu. Đó chính là lý do ngành này trở thành một trong những lĩnh vực kinh tế tiềm năng nhất về tốc độ tăng trưởng trong tương lai tại đây.

Chèo thuyền kayak tham quan trại nuôi vẹm tại Ebro Delta, Tây Ban Nha   Ảnh: Fornet

Chèo thuyền kayak tham quan trại nuôi vẹm tại Ebro Delta, Tây Ban Nha Ảnh: Fornet

Chiến lược “FLAG”

FLAG là một tổ chức đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động phát triển thủy sản và du lịch tại châu Âu. FLAG gồm các thành viên là tư nhân hoặc nhà nước hoạt động trong ngành khai thác, nuôi trồng thủy sản và đều có tâm huyết trong công cuộc thúc đẩy sự phát triển của các cộng đồng ven biển. Nhiều quốc gia không ngại đầu tư để phát triển tổ chức này như Bộ Nông nghiệp, Thực phẩm và Biển Ireland đã tuyên bố gây quỹ 12 tỷ bảng Anh cho hoạt động của 7 FLAG tại quốc gia này vào năm ngoái. Các FLAG trên toàn châu Âu hoạt động ở những vùng địa lý khác nhau và thực hiện những chiến lược riêng để phát triển thủy sản – du lịch.

Để thu hút khách du lịch, khu vực do FLAG quản lý phải đáp ứng được các điều kiện căn bản nhưng rất cần thiết để phát triển ngành du lịch đó là chỗ ăn, ở cho khách du lịch và đảm bảo giao thông thuận tiện. Ngoài ra, FLAG còn tìm cách phát triển nhiều dịch vụ khác mới lạ, độc đáo và được coi là điểm nhấn. Hầu hết các FLAG tại châu Âu đều đang trong quá trình thực hiện chiến lược khoanh vùng điểm nhấn tại khu vực họ quản lý.

Những điểm nhấn du lịch của từng vùng có thể là tài nguyên thiên nhiên, một loại thực vật hoặc động vật độc đáo; hoạt động giải trí, đặc biệt liên quan tới nước và thủy sản như câu cá, bơi, lặn biển, chèo thuyền; di sản như cảng cá, tàu thuyền hoặc các làng chài cổ hay một loại hình du lịch rất phổ biến hiện nay tại nhiều hòn đảo ở châu Âu như Pesca (mô hình du lịch do ngư dân chuyên nghiệp làm chủ). Những chiến lược FLAG thực hiện để thu hút khách du lịch phụ thuộc phần lớn vào danh tiếng của khu du lịch. Nếu khu du lịch đó chưa có tên tuổi, FLAG sẽ hỗ trợ đẩy mạnh các chiến dịch truyền thông, quảng cáo.

Mô hình hiệu quả

Hiện, đảo Sardinia tại Italia là một trong những khu vực dẫn đầu châu Âu trong phát triển du lịch gắn kết thủy sản thông qua mô hình PescaTour. Một hộ ngư dân cung cấp dịch vụ PercaTour tại Sardinia cho khách sẽ kiếm được 70 – 90 euro/người lớn và 50 euro/trẻ em dưới 10 tuổi. Ngư dân cho thuê tàu thuyền kèm hướng dẫn viên giúp du khách câu cá trên biển và tự thưởng thức thành quả bằng các bữa tiệc BBQ ngay trên thuyền.

Các trại nuôi thủy sản cũng được khuyến khích phát triển du lịch. Điển hình là trang trại nuôi cá ngừ của Công ty Balfefo ở châu thổ Ebro, đông bắc Tây Ban Nha. Năm 2012, Công ty này bắt đầu mở rộng sang hoạt động du lịch tận dụng ngay các sản phẩm của trại là cá ngừ để mở ra dịch vụ TunaTour. Qua TunaTour, du khách thỏa sức bơi cùng cá ngừ hoặc lặn biển quan sát đời sống của cá ngừ và thưởng thức cá ngừ tươi sống ngay tại trang trại với chi phí 47 euro/người lớn và 21 euro/trẻ em.

Mô hình du lịch này cũng được áp dụng tại trại nuôi nhuyễn thể Xavier Cabrera tại Ebro, Tây Ban Nha. Với quy mô 100 hệ thống nuôi trên biển, năng suất 3.000 tấn vẹm xanh cùng 1.000 tấn hàu mỗi năm, Xavier Cabrera cũng đã chào đón khách du lịch tới thăm quan mô hình qua dịch vụ ShellfishTour. Đây là chuyến dạo biển và khám phá hoạt động nuôi nhuyễn thể trên biển với chi phí 40 euro/khách du lịch, tặng kèm một kg vẹm, 4 con hàu và 1 chai rượu cùng hướng dẫn viên du lịch với nhiều ngôn ngữ khác nhau như tiếng Anh, Pháp và Nga.

Hài hòa lợi ích

Không thể phủ nhận tầm quan trọng của FLAG trong vai trò phát triển tiềm năng du lịch của từng vùng và tác động tích cực tới kinh tế địa phương. Tuy nhiên, ngành du lịch không chỉ mang lại lợi ích cho toàn vùng mà còn đặc biệt mang lại lợi ích cho ngành thủy sản, đây mới là điều quan trọng nhất nhằm mục đích hài hòa lợi ích giữa ngư dân trong vùng. Khi người ngư dân bị lạc lõng và không thu được lợi nhuận du lịch, họ sẽ có những phản ứng tiêu cực với việc phát triển ngành du lịch của toàn vùng, Stephanie Maes, Giám đốc FLAG tại Bỉ chia sẻ.

Trong các mô hình du lịch thủy sản do FLAG phát triển tại từng địa phương, ngư dân luôn là một mắt xích quan trọng không thể tách rời. Bằng những kỹ năng và trang thiết bị cụ thể, họ có thể cung cấp một số loại hình dịch vụ nhất định để phục vụ khác du lịch như trực tiếp làm hướng dẫn viên bờ biển, trèo thuyền ngắm thiên nhiên hoang dã, thưởng thức các món thủy sản do ngư dân địa phương khai thác. Một số FLAG khuyến khích ngư dân sử dụng tàu bè phục vụ khách du lịch PescaTour vào mùa hè bởi đây là tháng cao điểm du lịch. Khi đến mùa đông, lượng thủy hải sản phong phú hơn do có thời gian giãn khai thác vào mùa hè, nên ngư dân sẽ đạt sản lượng tốt hơn. Với chiến lược này, các FLAG không chỉ giúp ngư dân tăng thu nhập mà còn giúp ngành khai thác thủy sản đảm bảo bền vững.

(Theo Thủy sản Việt Nam)


【#4】Mỹ tăng thuế chống bán phá giá đối với tôm Việt Nam

Cuối tuần qua, Bộ Thương mại Mỹ (DOC) đã công bố phán quyết về nâng mức thuế chống bán phá đối với tôm Việt Nam đã xuất sang Mỹ trong giai đoạn 1/2/2013-31/1/2014 lên 1,42% thay vì 1,16% như trước đó.

Mỹ tăng thuế chống bán phá giá đối với tôm Việt Nam

Mức thuế tăng áp dụng cho giai đoạn 1/2/2013- 31/1/2014…

Đây là phán quyết được đưa ra sau khi áp dụng cách tính mới, cho dù vào ngày 7/9/2015, họ đã công bố kết quả đợt rà soát hành chính lần thứ 9 (POR9) thuế chống bán phá giá tôm đông lạnh nhập khẩu từ Việt Nam.

Để đưa ra mức thuế chống bán phá giá đối với tôm nhập khẩu từ Việt Nam, DOC đã chọn nước thứ ba có quy mô nền kinh tế tương đồng với Việt Nam để làm cơ sở tính toán.

Vẫn là xu hướng bảo hộ sản xuất trong nước

Trong những năm trước, Bangladesh được chọn là quốc gia tham chiếu, nhưng năm nay do có sự khiếu nại của một số nhà máy chế biến tôm và chủ tàu đánh bắt tôm ở Mỹ, DOC đã thay thế Bangladesh bằng Ấn Độ. Trên cơ sở thay đổi này, DOC đã quyết định nâng mức thuế chống bán phá giá đối với tôm nhập khẩu từ Việt Nam tăng từ 1,16% lên 1,42%.

Trên thực tế, các công ty nhập khẩu từ Việt Nam vào Mỹ đã phải đặt cọc một khoản tiền ngay khi nhập hàng, và khoảng chênh lệch do thuế chống bán phá giá tăng lên sẽ được truy thu từ khoản tiền đặt cọc này. Nhưng cho dù nguồn tiền được tính từ đâu cũng khiến giá tôm của Việt Nam xuất sang thị trường Mỹ tăng lên, và như thế sẽ làm giảm tính cạnh tranh của sản phẩm tôm của Việt Nam tại Mỹ.

Ông Trần Văn Lĩnh, Chủ tịch Hội đồng Quản trị, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Thương mại Thuỷ sản Thuận Phước cho biết, DOC tăng mức thuế chống bán phá giá như trên là do họ có ý muốn gây khó khăn cho các công ty xuất khẩu tôm của Việt Nam.

Tại kỳ POR9, Thuận Phước là 1 trong 3 bị đơn bắt buộc và phải chịu mức thuế chống bán phá giá khá cao, và bây giờ DOC có tính lại mức thuế của POR9 thì mức thuế của các bị đơn bắt buộc có thể sẽ tăng, và có thể ở mức khác nhau. Vì, mức thuế chống bán phá giá tại POR 9 vẫn thấp hơn so với các kỳ POR sau này và thậm chí thấp còn hơn các kỳ POR trước đó.

“Thuế chống bán phá giá do nước nhập khẩu đặt ra với mục đích làm lợi cho họ và bảo vệ sản xuất trong nước. Các mức thuế chống bán phá giá tôm tuy đã được quyết định trong các kỳ POR, nhưng nếu phía Mỹ xem thấy kỳ POR nào có mức thuế không phù hợp họ có thể nộp đơn và yêu cầu toà án tính lại. Nhất là bây giờ, chính quyền của Tổng thống Donal Trump đang đặt nặng vấn đề bảo hộ sản xuất trong nước, sẽ càng khó cho xuất khẩu thuỷ sản vào Mỹ hơn”, ông Lĩnh nhấn mạnh.

Luật pháp Mỹ cho phép

Theo ông Trương Đình Hoè, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thuỷ sản Việt Nam (Vasep), DOC ra quyết định này là dựa trên phán quyết của toà án từ kết quả của POR 9, do có sự khiếu nại của nguyên đơn là các nhà đánh bắt và chế biến tôm ở Mỹ. Họ kiện lên toà án và yêu cầu xử lại vì cho rằng, DOC sử dụng dữ liệu là mức lương của Bangladesh quá thấp không phù hợp để tính và toà án đã đồng ý.

Bởi theo luật của Mỹ, không nhất thiết sử dụng toàn bộ dữ liệu của một quốc gia làm giá trị thay thế, họ có thể sử dụng một vài dữ liệu của nước này, một vài dữ liệu của nước kia vẫn hợp pháp, và kết quả này cũng chỉ tác động đến việc thanh toán thuế cho các lô hàng đã xuất khẩu tại POR 9, hoàn toàn không có ảnh hưởng đến các lô hàng khác hoặc cho đến thời điểm hiện nay.

Theo luật của Mỹ, khi các bên không chịu kết quả DOC công bố thì có quyền khiếu kiện lên toà án và Toà sẽ xử lại. Nếu Toà xử DOC thua thì DOC phải tính lại theo phán quyết của Toà, và mức thuế chống bán phá giá tính lại có lên cao hay xuống thấp đều có thể xảy ra, vấn đề này hoàn toàn hợp pháp và các bên liên quan phải tuân theo lệnh của toà án.

“Trong trường hợp này, bên nguyên đơn cho rằng, DOC dùng mức lương của Bangladesh tính toán là không phù hợp, nên khiếu nại lên toà án và toà án đã đồng ý dùng mức lương của Ấn Độ để tính nên mức thuế chống bán phá giá đã tăng lên”, ông Hoè chia sẻ.

Tuy toà ra đã phán quyết nhưng nếu các công ty Việt Nam không đồng ý thì vẫn có thể kiện lên toà cao cấp hơn để yêu cầu xử lại, trong thời gian chờ xử lại vẫn chưa áp dụng mức thuế mới. Vấn đề này hoàn toàn hợp pháp chứ không có gì sai trái.

Từ đầu năm 2017, DOC cũng đã quyết định kéo dài thời gian áp thuế chống bán phá giá đối với tôm Việt Nam thêm 5 năm, còn mức thuế áp cho từng khoảng thời gian cụ thể sẽ được phán quyết sau các đợt rà soát hành chính của DOC.

Theo kế hoạch, DOC sẽ tiến hành đợt rà soát hành chính tiếp theo đối với tôm nhập khẩu từ Việt Nam vào năm 2018, và rất có thể Bangladesh sẽ tiếp tục không được chọn là quốc gia tham chiếu.

Theo Nguyễn Huyền

Vneconomy


【#5】Phát triển cá rô phi: Cần cung cấp đủ giống chất lượng tốt

Trong tương lai, cá rô phi sẽ là sản phẩm thay thế các loài cá thịt trắng đang ngày càng giảm. Việt Nam giàu tiềm năng phát triển sản xuất đối tượng này, nhưng để thành công, cần phải giải quyết “bài toán” cung cấp đủ giống có chất lượng tốt. Đây là vấn đề cấp bách đòi hỏi sự chung tay của các nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp…

Tiềm năng và cơ hội

Cá rô phi là tên gọi chung của khoảng 80 loài cá thuộc ba giống: Tilapia, Sarotherondon và Oreochromis thuộc họ Cichlidae. Trong ba giống thì các loài cá rô phi vằn O. niloticus, cá rô phi xanh O. aureus và cá rô phi hồng Oreochromis sp.; có khả năng thích ứng tốt trong các điều kiện môi trường nuôi khác nhau, có tốc độ lớn tương đối nhanh, là những loài đang được nuôi phổ biến nhất trên thế giới thuộc giống Oreochromis. Ở Việt Nam, cá rô phi được nuôi trong lồng, ao, cả trong môi trường nước ngọt và lợ. Cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) chủ yếu được nuôi ở các tỉnh phía Bắc và cá rô phi hồng (Oreochromis sp) được nuôi ở các tỉnh phía Nam. Theo thống kê của Tổng cục Thủy sản, năm 2015, tổng sản lượng cá rô phi các vùng trên cả nước là 187.800 tấn, diện tích đạt 25.748 ha và 1,21 triệu m3 lồng nuôi, giá trị ước 4.200 tỷ đồng (tương đương 200 triệu USD), chiếm khoảng 3% giá trị nuôi trồng thủy sản. Tiêu thụ cá rô phi tại thị trường nội địa phát triển với khoảng 160.000 tấn. Xuất khẩu cá rô phi hơn 27,5 triệu USD với hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ.


Người nuôi vẫn thiếu giống cá rô phi chất lượng cao  Ảnh: Vũ Mưa

Cá rô phi hiện đang có thị trường tiêu thụ tốt trong nước cũng như xuất khẩu. Nhu cầu tiêu thụ cá rô phi trên thế giới trong vòng 10 năm trở lại đây có tốc độ tăng trưởng rất nhanh, khoảng 30 – 40%/năm. Các nước có nhu cầu tiêu thụ cao gồm cả Mỹ, nơi cá rô phi xếp thứ 8 trong danh sách 10 loài thủy sản được tiêu thụ nhiều nhất.

Tập trung chất lượng giống

Việc phát triển cá rô phi cũng gặp không ít thách thức. Vì Việt Nam là nước đi sau trong sản xuất cá rô phi nên việc xâm nhập vào các thị trường nhập khẩu lớn là rất khó. Hơn nữa, cá rô phi của Việt Nam sản xuất còn hạn chế về số lượng, kích cỡ, chưa có thương hiệu và thiếu các sản phẩm đặc trưng. Chưa kể, dịch bệnh vẫn xảy ra, thiếu nguồn giống chất lượng cao, kháng bệnh… Tại khu vực phía Nam, đàn cá bố mẹ có dấu hiệu thoái hóa, tốc độ sinh trưởng chậm, đặc biệt là giống chịu mặn; Khu vực phía Bắc thường thiếu giống mùa đông.

Với những khó khăn trên, để phát triển nuôi cá rô phi bền vững, Bộ NN&PTNT đã ban hành Quyết định số 1639/QĐ-BNN-TCTS, ngày 6/5/2016 về Phê duyệt Quy hoạch phát triển nuôi cá rô phi đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 với mục tiêu phát triển nuôi cá rô phi thành ngành sản xuất hàng hóa lớn, hiệu quả, bền vững với sản phẩm đa dạng, giá trị cao đáp ứng thị trường xuất khẩu và tiêu thụ trong nước; Sản xuất đủ con giống chất lượng cao cung cấp cho người nuôi thương phẩm, môi trường dịch bệnh trong sản xuất được kiểm soát tốt; Góp phần tạo công ăn việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân.

Riêng về định hướng sản xuất giống, Bộ NN&PTNT xác định rõ mục tiêu quy hoạch vùng sản xuất giống tập trung. Cụ thể: Đầu tư mới, nâng cấp và mở rộng quy mô, năng lực các cơ sở sản xuất giống ở Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dương, Quảng Ninh, Thái Bình và Thanh Hóa để cung cấp cho nhu cầu nuôi thương phẩm trong vùng và các địa phương khác ở miền Bắc. Đầu tư cơ sở sản xuất giống ở Đắk Lắk để cung cấp nhu cầu giống nuôi cho 5 tỉnh khu vực Tây Nguyên. Mở rộng quy mô sản xuất cá rô phi đơn tính đực tại Bình Định, Quảng Nam để cung cấp cho các cơ sở nuôi thương phẩm tại địa phương và đáp ứng một phần nhu cầu cá rô phi giống tại miền Bắc vào đầu vụ (tháng 2 – 4 hàng năm). Hình thành vùng sản xuất giống cá rô phi tập trung tại Tiền Giang, Hậu Giang, An Giang, Đồng Tháp và Cần Thơ để chủ động sản xuất con giống đảm bảo chất lượng, cung cấp đủ cho nhu cầu nuôi trong vùng và các vùng khác trên phạm vi cả nước. Cải tạo đàn cá bố mẹ và nâng cao năng lực sản xuất giống cá rô phi tại các trung tâm sản xuất giống thủy sản nước ngọt cấp 1, góp phần chủ động nguồn cá rô phi giống chất lượng tốt cho nhu cầu tại chỗ. Đến năm 2020, Trung tâm Chọn giống cá rô phi thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I và các Trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt miền Bắc, Trung và Nam sản xuất đủ cá rô phi bố mẹ, hậu bị chất lượng cao, cung cấp cho các cơ sở sản xuất giống cá rô phi trong nước.

(Theo Thủy sản Việt Nam)


【#6】Nuôi trồng thủy sản ở miền Trung: Để hiệu quả mà vẫn bền vững

Nhiều mô hình nuôi trồng thủy sản tại các tỉnh ven biển miền Trung đưa lại lợi nhuận cao cho người nông dân, trong đó có mô hình đạt lợi nhuận 3 tỷ đồng/ha/năm. Tuy nhiên để phát triển bền vững còn nhiều vấn đề phải bàn.

Ông Kim Văn Tiêu, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia (giữa)   Ảnh: TTKNQG chia sẻ về mô hình nuôi xen ghép TTCT - cá dìa

Ông Kim Văn Tiêu, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia (giữa) chia sẻ về mô hình nuôi xen ghép TTCT – cá dìa Ảnh: TTKNQG

Nhiều khó khăn

Theo ông Nguyễn Bá Sơn, Vụ Nuôi trồng Thủy sản, các tỉnh ven biển miền Trung từ Hà Tĩnh đến Quảng Ngãi có điều kiện thuận lợi để phát triển nuôi trồng thủy sản, trong đó có nuôi tôm nước lợ, cá biển, nhuyễn thể, nhất là nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh trên vùng đất cát, đặc biệt là mô hình nuôi xen ghép thâm canh vừa đạt hiệu quả kinh tế cao vừa bảo vệ môi trường. Năm 2016, diện tích nuôi mặn, lợ 7 tỉnh trong vùng đạt 15.608 ha, sản lượng 38.911 tấn; diện tích nuôi nước ngọt 19.443 ha, sản lượng 32.675 tấn. Tuy nhiên, nơi đây còn nhiều khó khăn, thách thức như điều kiện khí hậu khắc nghiệt; suy thoái và ô nhiễm môi trường, dịch bệnh ngày càng diễn biến phức tạp; cơ sở hạ tầng nhiều vùng nuôi thâm canh chưa đảm bảo dẫn đến mức độ rủi ro cao; kiểm soát vật tư đầu vào, kháng sinh, chất xử lý cải tạo môi trường ao nuôi còn nhiều bất cập…

Đại diện Sở NN&PTNT Thừa Thiên – Huế chia sẻ, phần lớn diện tích ao nuôi vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai của tỉnh chưa đảm bảo quy cách, chủ yếu sử dụng phương thức nuôi quảng canh cải tiến, bán thâm canh, hiệu quả sản xuất chưa cao. Việc xả thải bừa bãi nguồn nước chưa qua xử lý, quy trình nuôi được áp dụng chưa đúng kỹ thuật khiến cho dịch bệnh dễ lây lan và gây ô nhiễm môi trường. Địa phương cũng như các tỉnh ven biển miền Trung, việc quy hoạch và quản lý quy hoạch nuôi trồng thủy sản còn nhiều bất cập; quản lý nhà nước về thủy sản chưa thống nhất giữa các địa phương; các giải pháp kỹ thuật nuôi mới, biện pháp phòng trị bệnh chưa được chia sẻ ứng dụng rộng rãi…

Giải pháp

Theo kế hoạch, diện tích nuôi trồng thủy sản các tỉnh miền Trung đến năm 2020 là 36.980 ha, trong đó diện tích mặn, lợ là 22.140 ha, nước ngọt là 14.840 ha; Tổng sản lượng khoảng 158.190 tấn; Sản xuất giống thủy sản cung cấp cho thị trường 100 tỷ giống hải sản các loại và 400 triệu giống thủy sản nước ngọt; giá trị xuất khẩu đạt 1.200 triệu USD.

Trong những năm qua, để nuôi trồng thủy sản ở các tỉnh miền Trung đạt hiệu quả cao và bền vững nhiều mô hình đã được triển khai. Theo ông Kim Văn Tiêu, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, những năm qua Trung tâm đã phối hợp với khuyến nông các tỉnh ven biển miền Trung, các viện nghiên cứu, trường đại học xây dựng nhiều mô hình về khuyến ngư đạt hiệu quả cao như: Mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng theo tiêu chuẩn VietGAP thuộc dự án xây dựng mô hình nuôi tôm sú, tôm thẻ chân trắng tại các tỉnh ven biển miền Trung. Mô hình này đạt lợi nhuận cao trung bình trên 500 triệu đồng/ha, hiệu quả tăng hơn 39% so mô hình không theo VietGAP, tỷ suất lợi nhuận tăng gần 1,4 lần.

Hay mô hình nuôi tôm theo công nghệ biofloc của ông Lê Minh Chính (xã Ninh Phú, huyện Ninh Hòa, Khánh Hòa) rất đáng để nhân rộng. Năm 2016, chỉ với 0,5 ha ao nuôi tôm đã cho năng suất 78 tấn/4 vụ nuôi, tỷ lệ lợi nhuận đạt 52%/vốn đầu tư. Mô hình nuôi luân canh tôm sú – rong câu tại Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Khánh Hòa và Ninh Thuận cũng đưa lại lợi nhuận đạt trên 200 triệu đồng/ha.

Đặc biệt phải kể đến mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng trên cát xen canh với cá dìa của ông Phạm Thanh Kiều (xã Vinh Mỹ, huyện Phú Lộc, Thừa Thiên – Huế). Sau nhiều năm liên tục thua lỗ nặng bởi mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng trên cát, ông Kiều chuyển sang nuôi xen canh tôm thẻ chân trắng với cá dìa nhằm hạn chế dịch bệnh. Chỉ với 3 ao nuôi có diện tích gần 1 ha nhưng ông Kiều có tổng doanh thu 3,99 tỷ đồng, lợi nhuận 3 tỷ đồng/năm.

Ông Nguyễn Bá Sơn khuyến cáo, để thủy sản phát triển bền vững cần đa dạng đối tượng nuôi và phương thức nuôi với cơ cấu diện tích và sản lượng phù hợp với từng vùng kinh tế, sinh thái trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh cụ thể của từng sản phẩm (nuôi thâm canh tôm thẻ chân trắng vùng đất cát có lợi thế, nuôi xen ghép tôm – cua – cá, nuôi nhuyễn thể, cá rô phi). Đẩy mạnh áp dụng nuôi có chứng nhận, phát triển các mô hình nuôi công nghệ cao, nuôi tuần hoàn tiết kiệm nước…

(Theo Thủy sản Việt Nam)


【#7】Giá mực xà tăng vọt

Giá mực xà đạt mức kỷ lục trong những ngày qua đã đem đến niềm phấn khởi cho ngư dân.

Mực xà tăng giá đột biến trong những ngày qua. Ảnh: N.Q.V

Mực xà tăng giá đột biến trong những ngày qua. Ảnh: N.Q.V

Vượt đỉnh

Những ngày này, cảng cá An Hòa (xã Tam Giang, Núi Thành) sôi động bởi các tàu câu mực khơi chuẩn bị vươn khơi bám biển. Ngư dân Nguyễn Văn Bé (thôn Đông Bình, xã Tam Giang) – chủ tàu cá QNa-90839 có công suất 830CV cùng 50 bạn biển khẩn trương khiêng vác thúng câu, các nhu yếu phẩm phục vụ bám biển dài ngày ở ngư trường Trường Sa. “Chuyến biển thứ 3 này sẽ khó câu mực hơn 2 chuyến trước vì thời tiết dự báo sẽ thất thường, luôn có áp thấp nhiệt đới, biển động mạnh. Tuy nhiên, chúng tôi yên tâm vì ở ngư trường Trường Sa có nhiều khu neo đậu, đảm bảo an toàn cho người và phương tiện khi có tình huống xấu. Hầu hết anh em chưa được nghỉ ngơi trọn vẹn, chuyến biển thứ 2 mới vừa kết thúc, chúng tôi cập bờ bán mực xà xong là vươn khơi ngay” – anh Bé nói. Anh Bé cho biết, chuyến biển vừa qua, tàu QNa-90839 thu được tổng cộng 30 tấn mực xà, bán được xấp xỉ 4 tỷ đồng. Sau khi trừ chi phí sau hơn 2 tháng bám biển tổng cộng là 500 triệu đồng, chủ tàu thu được 800 triệu đồng, mỗi bạn biển được chia hơn 50 triệu đồng. “Chưa bao giờ chúng tôi bán mực xà với giá cao kỷ lục là 135 nghìn đồng/kg. Thời điểm mực xà được giá nhất trước đây là hồi năm 2014 với mức 125 nghìn đồng/kg. Được mùa lại được giá nên anh em đều phấn khởi, hối thúc nhau mau chóng bám biển” – anh Bé nói.

Xã Tam Giang là địa bàn có nghề câu mực khơi lớn nhất tỉnh, hiện có 30 tàu câu mực thì có đến hơn 20 tàu đồng loạt chuẩn bị vươn khơi. Theo ngư dân Huỳnh Văn Trí (thôn Đông Xuân, xã Tam Giang) – chủ tàu câu mực khơi QNa-90859 có công suất 820CV, do thời tiết có biến động nên ở chuyến biển thứ 3 này, ông và các bạn biển sản xuất ở ngư trường Trường Sa, thay vì Hoàng Sa như ở 2 chuyến biển trước từ đầu năm. “Tôi vừa chuẩn bị xong nhiên liệu, chuyến biển dự kiến diễn ra trong vòng gần 3 tháng sẽ tiêu hao hơn 20 nghìn lít dầu, khoảng 300 triệu đồng. Các nhu yếu phẩm khác như lương thực, thực phẩm, nước uống, gas cộng thêm sẽ khiến giá thành cho chuyến biển lên đến 500 triệu đồng. Chỉ mong trời yên, biển lặng giúp chúng tôi có thêm chuyến biển thành công” – ông Trí nói. Chuyến biển vừa qua, ông Trí và gần 50 bạn biển thu được tổng cộng 25 tấn mực xà. Chủ tàu thu được gần 700 triệu đồng, mỗi bạn được chia 40 triệu đồng.

Nhu cầu tăng

Ông Nguyễn Văn Lúc – cán bộ phụ trách thủy sản của UBND xã Tam Giang cho biết, sau 2 chuyến biển từ đầu năm, đến nay, sản lượng khai thác mực xà của 30 tàu câu mực trên địa bàn đạt 4.890 tấn. Như vậy, tính trung bình, mỗi tàu đạt gần 40 tấn mực xà/chuyến biển. “Cứ mỗi khi tàu câu mực cập bờ là tôi đến thống kê sản lượng thu được. Ngư dân khiêng vác hải sản lên cân bán ngay tại cảng cá An Hòa nên hầu như không có sai sót về tổng sản lượng thống kê. Năm nay, nghề câu mực khơi rất thành công, sản lượng tăng cao mà giá bán tăng vọt khiến cho hiệu quả kinh tế thu được tăng đột biến. Mong sao thị trường mua bán mực xà ổn định về giá, giúp ngư dân thu được giá trị cao, yên tâm bám biển” – ông Lúc nói.

Tại xã Bình Minh (Thăng Bình) hiện có 19 tàu câu mực khơi. Các chuyến biển của ngư dân đều đạt khá. Ông Trương Công Bảy – Phó Chủ tịch UBND xã Bình Minh cho biết, từ đầu năm đến nay, ngư dân theo nghề câu mực bám biển được 2 chuyến. Tính trung bình mỗi tàu thu được 20 tấn hải sản/chuyến biển. Giá mực xà ngư dân bán được dao động ở mức xấp xỉ 130 nghìn đồng/kg. “Mặc dù sản lượng mực xà ngư dân thu được không quá cao nhưng giá bán tăng vọt đã khiến cho hiệu quả chuyến biển tăng lên rõ rệt. Câu mực khơi là nghề chủ lực của địa phương. Giá bán cao đã giúp cho ngư dân được tiếp thêm động lực trong những chuyến bám biển trong thời gian tới” – ông Bảy cho hay.

Đối chiếu với mọi năm sản xuất của nghề câu mực khơi – điệp khúc được mùa, mất giá luôn lặp lại thì thực tế được mùa, được giá vào thời điểm hiện tại của nghề này là rất khác biệt. Bà Phan Thị Tuyết (thôn Sâm Linh Đông, xã Tam Quang) kinh doanh mực xà nhiều năm nay cho biết, giá mực xà tăng đột biến là do nguồn cầu tăng cao. Trước đây, mực xà chỉ có thể xuất khẩu bán qua Trung Quốc bằng đường tiểu ngạch. Do độc quyền thu mua nên thương lái Trung Quốc ép giá, nhiều khi mực xà chỉ bán được 50 nghìn đồng/kg. Qua nhiều mối quen biết làm ăn, bà Tuyết đã kết nối, bán được mực xà qua các thị trường Thái Lan, Indonesia, Malaysia. “Khi hàng hóa mực xà không còn độc quyền để phía Trung Quốc quyết định giá thì theo quy luật thị trường, nguồn cầu tăng lên khiến giá bán mực xà tăng cao là điều dễ hiểu. Tôi thu mua hầu hết mực xà của ngư dân Quảng Nam khai thác được và đã nhiều lần thua lỗ do bị phía Trung Quốc đột ngột giảm giá mua” – bà Tuyết nói. Theo bà Tuyết, gần như chắc chắn giá mực sẽ không giảm trong thời gian đến do nguồn cung không nhiều bởi mùa biển động đã ở ngay phía trước. Đồng thời sẽ tiếp tục tìm cách mở rộng thị trường mực xà xuất khẩu trong thời gian đến.
Theo Báo Quảng Nam


【#8】Để ngành thủy sản châu Á khỏe mạnh

Trong nuôi trồng thủy sản (NTTS), nghiên cứu và dinh dưỡng đóng vai trò rất quan trọng. Tại châu Á, vấn đề dinh dưỡng và thức ăn còn đang bị bỏ ngỏ. Các nhà máy chế biến thức ăn nhiều vô kể nhưng vẫn thiếu đội ngũ chuyên gia dinh dưỡng có thể giúp nhà máy phát triển phụ gia thức ăn nâng cao lợi nhuận mà vẫn đảm bảo dinh dưỡng tối ưu cho sức khỏe vật nuôi.

Nhiều người nuôi thủy sản hay hãng chế biến thức ăn vẫn cho rằng phụ gia thức ăn là những chi phí phụ và tốn kém. Họ cần phải thay đổi lại cách nhìn nhận này bởi phụ gia thức ăn thủy sản chính là công cụ hữu ích tạo ra các công thức thức ăn linh hoạt và góp phần cải thiện hiệu quả của thức ăn. Ví dụ: Chất ức chế hoạt động mycotoxin sẽ giúp giảm những tác động tiêu cực của mycotoxin lên một số nguyên liệu thức ăn, phytogenics và axít hữu cơ; từ đó cải thiện hiệu quả thức ăn và giảm tác nhân gây mầm bệnh ở đường ruột vật nuôi… Ngành cá hồi thành công nhờ sử dụng linh hoạt phụ gia thức ăn và đó cũng là lý do ngành này được so sánh với ngành chăn nuôi heo và gà về hiệu quả toàn diện.

Tuy vậy, ngành NTTS tại châu Á lại chưa sử dụng linh hoạt các loại phụ gia thức ăn, nên vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Nông dân châu Á vẫn còn “quá nặng nề” về giá thức ăn và hãng sản xuất thức ăn chỉ tập trung tạo ra các sản phẩm rẻ tiền để đánh vào tâm lý người nuôi. Nhưng điều mà cả người nuôi và công ty sản xuất thức ăn cần chú trọng chính là tính hiệu quả và đầu ra. Đó không đơn thuần là giá thức ăn mà đó là chi phí sản xuất. Khi đặt câu hỏi “để sản xuất được 1 kg cá, tôi cần phải chi bao nhiêu?” người nuôi phải tính toán chi phí sản xuất vượt lên giá thức ăn, đó sẽ là tỷ lệ chuyển đổi thức ăn, tỷ lệ tăng trưởng và môi trường. Tóm lại, tất cả đều chung một mục đích cuối cùng là tính lợi nhuận và chúng tôi gọi đây là “kinh tế dinh dưỡng”, nghĩa là bạn cần phải tìm kiếm giải pháp dinh dưỡng tối ưu để tối đa lợi nhuận.

Nuôi trồng thủy sản rủi ro hơn các loại gia súc, gia cầm vì có quá nhiều đối tượng nuôi. Ngành nuôi cá hồi đang làm rất tốt việc kiểm soát thức ăn, quản lý môi trường và ứng dụng công nghệ nuôi tiên tiến. Một khi đã lựa chọn được giải pháp dinh dưỡng, người nuôi cần phải khoanh vùng được đối tượng nuôi tiềm năng. Hiện nay, tôm, cá rô phi và cá da trơn đang được coi là các đối tượng nuôi phổ biến, lợi nhuận cao.

Điều quan trọng cuối cùng là cần phải giảm rủi ro dịch bệnh bằng cách phát triển kỹ năng quản lý trại nuôi. Công việc này đòi hỏi cần phải cải thiện quản lý môi trường nước khi nước ở một số nơi trên thế giới vẫn là nguồn tài nguyên có hạn. Ngoài ra, cũng cần phát triển nghề nuôi biển, nuôi nước lợ nhằm giảm phụ thuộc vào thủy sản nước ngọt.

(Theo Thủy sản Việt Nam)


【#9】Liên kết chặt chẽ phát huy thế mạnh vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL

“Cà Mau, TP. Cần Thơ, An Giang và Kiên Giang không chỉ được xác định là vùng kinh tế trọng điểm của khu vực ĐBSCL mà còn là 1 trong 4 vùng kinh tế trọng điểm của cả nước. Đây là vùng kinh tế có vị trí, vai trò quan trọng trong phát kinh tế – xã hội, đảm bảo quốc phòng – an ninh của cả nước”. Đó là nhận định của Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Nguyễn Tiến Hải, Chủ tịch Hội đồng vùng nhiệm kỳ 2017–2018, tại hội nghị Hội đồng vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL lấn thứ nhất, diễn ra ngày 12/7.

Các địa phương trong vùng đều có lợi thế, tiềm năng phát triển nuôi trồng, khai thác thủy sản, sản xuất lúa gạo, phát triển du lịch… Điều này thể hiện ở mức tổng thu ngân sách 6 tháng của 4 tỉnh trên 16.046 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu luôn duy trì ở con số 4 tỷ USD; trong 6 tháng có đến gần 2.000 doanh nghiệp được thành lập mới…

Nhiều hạn chế cần được tháo gỡ

Mặc dù là khu vực được đánh giá giàu tiềm năng và lợi thế, nhưng theo đánh giá của ông Nguyễn Tiến Hải thì, thời gian qua sự liên kết, phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau giữa các địa phương trong vùng chưa đạt được kết quả như mong muốn. Điều này đã ảnh hưởng đến việc phát huy thế mạnh của từng địa phương của vùng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, năng lực cạnh tranh của địa phương, của vùng.

Con tôm - một trong thế mạnh và có tỷ trọng lớn của vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL.

Con tôm – một trong thế mạnh và có tỷ trọng lớn của vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL.

Ông Nguyễn Tiến Hải còn chỉ ra những hạn chế hiện nay trong công tác phối hợp giữa các địa phương trong vùng là chưa có quy định, chế tài cũng như cơ chế, chế chính sách cụ thể; chưa có cơ chế phối hợp giữa các bộ ngành trung ương với các địa phương trong điều hành cơ chế chính sách của vùng. Chưa có sự ràng buộc trách nhiệm giữa các địa phương để phối hợp trong giải quyết các lĩnh vực cơ bản trong liên kết vùng như: quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch ngành, lĩnh vực quan trọng, quy hoạch kết nối hạ tầng giao thông… Từ đó, trong quá trình phát triển mỗi địa phương trong vùng lại chọn một ngành, lĩnh vực riêng lẻ, dựa trên lợi thế và thế mạnh của mình mà chưa tính đến sự phối hợp liên kết với nhau để tăng thêm sức cạnh tranh của vùng cũng như của mỗi địa phương.

Đánh giá về vai trò của 4 tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL, Phó trưởng Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ Nguyễn Trung Hiếu nhận định, đây là những địa phương có vị trí địa lý vô cùng quan trọng trong giao thương, phát triên kinh tế – xã hội của toàn vùng. Nếu tính cả sản lượng lúa, thủy sản đây là khu vực chiếm tỷ trọng lớn của cả nước. Tuy nhiên, hiện vùng vẫn còn khó khăn phải khắc phục, đặc biệt là giao thông. Nguồn vốn ngân sách đầu tư cho giao thông hiện nay chỉ mới đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu thực tế. Trong khi đó, biến đổi khí hậu ngày một diễn biến phức tập thì nó lại càng trở nên khó khăn và bức xúc.

Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội của các tỉnh, thành phố vùng còn yếu kém, thiếu đồng bộ, tính kết nối thấp. Nhiều danh mục dự án hạ tầng giao thông đã được bộ, ngành Trung ương và Chính phủ phê duyệt nhưng tiến độ triển khai còn chậm… Đây là lực cản lớn nhất trong liên kết vùng. Đặc biệt, Chủ tịch UBND TP. Cần Thơ Võ Thành Thống nhận định, thời gian qua do tác động của biến đổi khí hậu làm cho tình trạng sạt lở đất ven biển, ven sông, hiện tượng xâm mặn ngày một nghiêm trọng và đã trở thành thách thức lớn không phải của tỉnh hay thành phố nào mà là toàn vùng. Trong bối cảnh đó, đòi hỏi phải có sự phối hợp đồng bộ, chặc chẽ của cả vùng trong ứng phó và cùng phát triển.

Liên kết mang tính liên vùng

Tại hội nghị, đa phần các địa phương đều thống nhất kiến nghị Chính phủ điều chỉnh, bổ sung một số quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội, các quy hoạch ngành, lĩnh vực. Ông Mai Anh Nhịn, Phó chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang cho rằng, khi kiến nghị Chính phủ và các bộ, ngành điều chỉnh một số quy hoạch phát triển nông nghiệp thì cần phải có điều chỉnh về thủy lợi. Đây là lĩnh vực quan trọng quyết định thắng lợi cho sản xuất nên phải điều chỉnh cho phù hợp với thực tế diễn biến hiện nay. Ngoài ra, cần kiến nghị xin cơ chế chính sách chung của cả vùng và các tỉnh cần phải chủ động ngồi lại bàn nội dung liên kết cụ thể từng địa phương với nhau trên từng lĩnh vực cụ thể.

Khai thác thủy sản cũng là một trong những tiềm năng lớn của vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL.

Khai thác thủy sản cũng là một trong những tiềm năng lớn của vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL.

Đối với việc thu hút nguồn nhân lực cho cả vùng, nhất là các chuyên gia đầu ngành còn hạn chế ở các tỉnh, thành phố hiện nay (trừ TP. Cần Thơ): “Cần có sự phối hợp trong sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là các chuyên gia đầu ngành, còn làm theo kiểu hiện nay mỗi tỉnh đều có chính sách riêng để thu hút nguồn nhân lực thì vô tình đã tạo ra cuộc canh tranh giữa các tỉnh”, ông Nhịn chia sẻ.

Liên quan đến quy hoạch cho toàn vùng, ông Vũ Quang Các, Vụ trưởng Vụ quản lý quy hoạch, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, với đặc trưng của vùng là có độ cao trung bình từ 0,5-1,5 m, nếu một điểm bị tác động do biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng đến toàn vùng. Chính vì vậy, cần có nghiên cứu một cánh tổng thể mới có giải pháp giải quyết một cách đồng bộ. “Hiện Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang tiến hành lập quy hoạch tổng thể phát kinh tế – xã hội vùng ĐBSCL đến năm 2030 theo phương pháp tích hợp đa ngành từ nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ – thương mại, nuôi trồng thủy sản, giao thông… để giải quyết các vấn đề mang tính liên vùng, liên tỉnh”, ông Các cho biết thêm.

Đồng tình với quan điểm giải quyết vấn đề cần có sự liên kết toàn vùng và liên vùng, Phó trưởng Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ Nguyễn Trung Hiếu cho rằng, để khắc phục khó khăn hiện nay của vùng, ngoài việc xây dựng mối liên kết chặt chẽ với các địa phương trong vùng cần phải có mối liên kết với các vùng kinh tế khác như: Tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười, Bán đảo Cà Mau… để tránh sự trùng lấp và phát huy được thế mạnh của từng tiểu vùng.

(Theo Thủy sản Việt Nam)


【#10】Giải bài toán điện cho thủy sản

Việc cung cấp điện có đáp ứng đủ nhu cầu nuôi trồng thủy sản (NTTS) hay không đang rất được quan tâm. Xung quanh vấn đề này, ông Nguyễn Phước Đức (ảnh), Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Điện lực miền Nam (EVN SPC) đã có chia sẻ với Thủy sản Việt Nam về kế hoạch cung cấp điện, cũng như đưa ra một số giải pháp hữu ích giúp tiết kiệm điện.

Nâng cấp hệ thống điện phục vụ nuôi trồng thủy sản   Ảnh: CTV

Nâng cấp hệ thống điện phục vụ nuôi trồng thủy sản Ảnh: CTV

Người nuôi thủy sản, nhất là nuôi tôm công nghiệp các tỉnh ĐSBCL đang lo lắng vấn đề thiếu điện. Trên thực tế có diễn ra tình trạng này không, thưa ông?

Hiện, EVN SPC đã đầu tư 876 tỷ đồng thực hiện các dự án/công trình đầu tư xây dựng hệ thống lưới điện để đảm bảo cấp điện phục vụ NTTS, đặc biệt là nuôi tôm công nghiệp tại các tỉnh ven biển khu vực phía Nam. Cụ thể gồm các dự án cải tạo, nâng cấp và phát triển lưới điện thuộc Dự án DPL3 vay vốn Ngân hàng Thế giới thực hiện trong năm 2015 và hoàn tất đưa vào sử dụng quý I/2016 với tổng giá trị thực hiện là 597 tỷ đồng; và các công trình thực hiện bằng nguồn vốn tự có và đối ứng của địa phương với tổng giá trị đầu tư là 279 tỷ đồng.

Theo đó, việc cấp điện phục vụ NTTS cho các vùng nuôi nằm trong quy hoạch các tỉnh khu vực này về cơ bản đã được đáp ứng. Tuy nhiên, với tình hình các hộ phụ tải nuôi tôm nhỏ lẻ không tập trung, phát triển tự phát đã dẫn đến tình trạng quá tải lưới điện ở nhiều thời điểm do nhu cầu sử dụng điện rất cao để duy trì nguồn ánh sáng phục vụ nuôi tôm. Có một số khu vực trước đây thực hiện chương trình điện khí hóa nông thôn nên chỉ đầu tư lưới điện một pha phục vụ thắp sáng, nay cùng lúc rất nhiều khách hàng tại các tỉnh ĐBSCL tự kéo điện để nuôi tôm nên gây quá tải, sụt áp và thiếu điện cục bộ khu vực này, muốn giải quyết phải có thời gian và nguồn vốn.

Chi phí về điện hiện đang chiếm 11 – 14% giá thành tôm (khoảng 8.000 – 10.000 đồng/kg). Trong trường hợp không có điện, người nuôi phải dùng máy phát điện thì chi phí có thể tăng gấp đôi?

Về thông tin này chúng tôi chưa kiểm chứng được vì còn phụ thuộc vào công nghệ thiết bị, sử dụng điện hợp lý và tiết kiệm. Tất nhiên chi phí sẽ tăng cao hơn khi phải dùng máy phát điện để phục vụ nuôi tôm ở những nơi chưa có điện lưới quốc gia hoặc có lưới điện nhưng phải ngừng cung cấp điện để phục vụ bảo trì, sửa chữa lưới điện hay do các sự cố lưới điện gây ra. Nhận thức được vấn đề trên, chúng tôi đã hạn chế tần suất và thời gian ngừng cung cấp điện phục vụ khách hàng đến mức thấp nhất có thể.

Tuy nhiên, thời gian qua công tác đầu tư lưới điện phục vụ nuôi tôm công nghiệp trên địa bàn các tỉnh Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Trà Vinh còn nhiều bất cập do tình trạng người nuôi tự phát, không theo quy hoạch đã kéo theo nhiều hệ lụy: Ngành điện phải xử lý tình trạng quá tải đường dây, máy biến áp tăng đột biến, chủ yếu xảy ra ở những khu vực nuôi tôm tự phát. Chi phí đầu tư khắc phục tình trạng quá tải rất lớn; Nuôi tôm công nghiệp là một nghề mang lại lợi nhuận cao nhưng cũng nhiều rủi ro, thực tế có nhiều trường hợp sau khi ngành điện đã đầu tư, xử lý quá tải xong thì người nuôi “treo ao”, gây lãng phí, đầu tư kém hiệu quả…

Vậy người NTTS cần phải làm gì để tiết kiệm, giảm sản lượng điện tiêu thụ, từ đó, tiết kiệm chi phí sản xuất và gia tăng lợi nhuận?

Đối với mô hình nuôi tôm quảng canh, quảng canh cải tiến, nuôi kết hợp tôm – lúa: Cần áp dụng quy trình kỹ thuật không thay nước, gia cố bờ ao chắc chắn, có sử dụng các chế phẩm sinh học nhằm hạn chế việc bơm nước và thay nước để giảm chi phí, tiết kiệm điện năng.

Đối với mô hình nuôi tôm thâm canh: Áp dụng quy trình kỹ thuật mới để hạn chế thay nước; Giảm mật độ nuôi, tôm sú từ 20 con/m2 xuống 10 con/m2, tôm thẻ chân trắng < 100 con/m2 nhằm giảm bớt áp lực dịch bệnh, chi phí đầu tư, nhất là số giàn quạt và thời gian chạy quạt. Trong quá trình nuôi cần tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật cho thời gian chạy quạt nhằm tránh lãng phí điện năng không cần thiết. Sử dụng con lăn tiết kiệm điện cho trục đỡ cánh quạt thay thế cho các U, móc bằng nhựa nhằm giảm ma sát trong quá trình chạy quạt, giúp giảm tải cho motor, hạn chế tình trạng cháy motor và tiết kiệm điện năng. Sử dụng các động cơ điện có hiệu suất cao, có chứng nhận tiết kiệm năng lượng, kết hợp sử dụng hệ thống bơm thổi khí để giảm bớt thời gian chạy quạt nước ao tôm trong các giai đoạn nuôi. Lắp đặt tụ bù điện tại động cơ điện để nâng cao hệ số công suất sử dụng và giảm tổn thất điện năng trên dây dẫn. Không sử dụng đèn sợi đốt, thay thế các đèn chiếu sáng có hiệu suất thấp như đèn huỳnh quang, đèn compact chất lượng kém bằng đèn compact tiết kiệm điện, đèn led. Sử dụng dây dẫn điện đảm bảo chất lượng để giảm sụt áp trên đường dây, giúp động cơ hoạt động ổn định và nâng cao hiệu suất của động cơ. Sử dụng biến tần để nâng cao hiệu quả sử dụng động cơ quạt ao tôm, góp phần hiệu quả trong việc tiết kiệm điện. Kéo và lắp đặt dây dẫn từ công tơ điện đến phụ tải bằng dây 2 sợi đầy đủ (dây nóng và dây trung hòa), dựng trụ đỡ bằng bê tông và sử dụng ụ sứ để kéo dây nhằm đảm bảo an toàn điện và tiết kiệm điện trong quá trình sản xuất.

EVN SPC có những chương trình gì để giúp người NTTS sử dụng điện an toàn và tiết kiệm?

Để hỗ trợ các hộ nuôi tôm thực hiện tiết kiệm điện, riêng năm 2016, các đơn vị trực thuộc EVN SPC đã phối hợp với Sở Công thương các tỉnh tổ chức nhiều hội nghị phổ biến kiến thức pháp luật trong sử dụng điện, hướng dẫn các biện pháp sử dụng điện an toàn, tiết kiệm trong sinh hoạt và nuôi tôm.

Năm 2017, EVN SPC sẽ tiếp tục triển khai vận động các hộ nuôi tôm áp dụng các biện pháp tiết kiệm điện nêu trên, đồng thời triển khai thực hiện Đề án “Hỗ trợ tiết kiệm điện cho các hộ nuôi tôm”. Theo đó, các hộ nuôi tôm đăng ký thực hiện mô hình tiết kiệm điện sẽ được hỗ trợ các gối đỡ con lăn tiết kiệm điện cho hệ thống quạt tạo ôxy, được tư vấn và hỗ trợ trong việc chuyển đổi các thiết bị điện dùng trong nuôi tôm sang thiết bị tiết kiệm điện. Trước mắt, để chuẩn bị triển khai Đề án, ngoài việc thường xuyên tuyên truyền sử dụng điện tiết kiệm trên các phương tiện truyền thông, EVN SPC cũng đang thực hiện thống kê quy mô nuôi tôm và tình hình sử dụng điện của từng loại hình nuôi tôm, thống kê thiết bị có khả năng chuyển đổi bằng thiết bị tiết kiệm điện của các hộ nuôi tôm, đề xuất các giải pháp thực hiện sử dụng điện an toàn, tiết kiệm trong nuôi tôm để biên soạn cẩm nang tiết kiệm điện trong nuôi tôm.

Theo Thủy sản Việt Nam


Bạn đang xem chủ đề giá mực khô tại hải tiến thanh hóa trên website Haisantuoisong.net. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã giới thiệu ở trên sẽ hữu ích với bạn. Nếu bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!