cá trứng nhật

Tổng hợp các bài viết thuộc chủ đề cá trứng nhật xem nhiều nhất, được cập nhật mới nhất ngày 18/06/2021 trên website Haisantuoisong.net. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung cá trứng nhật để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Các bài viết trong chủ đề cá trứng nhật

Tìm thấy #231 tin bài liên quan cá trứng nhật


【#1】Cá Trứng Nhật – Mua cá trứng Nhật ở đâu tại tphcm

Bán cá Trứng Nhật tại Tp. HCM. Chúng tôi chuyên bán cá Trứng Nhật tươi, đông đóng đi cả nước với giá sỉ.

Cá trứng còn có tên gọi khác là cá trứng Na Uy hoặc cá trứng Nhật. Cá trứng có tên như vậy vì đặc điểm sinh học của nó là trong bụng luôn chứa đầy trứng. Và tên gọi cá trứng Na Uy là do xuất xứ.
Là loại cá có hình dạng nhỏ như con cá kèo, xương nhỏ, mềm, da cá mỏng và đặc biệt bụng cá (con cái) luôn chứa đầy trứng dù không phải mùa sinh sản. Đây là loại cá thường được tìm thấy ở vùng tây bắc Đại Tây Dương, và Bắc Băng Dương, những vùng nước lạnh tinh khiết, đặc biệt là vùng Bắc Âu như: Na Uy, Green Land, hoặc Canada…

Quy Cách : Hàng nguyên con

* Chỉ với 70.000đ để sở hữu ngay 01 kg Cá trứng nhỏ

* Chỉ với 75.000đ để sở hữu ngay 01 kg Cá trứng lớn

*  Ngoài ra còn bán theo vỉ: size 8 con/ vỉ. Giá 15.000/ vỉ.

*  Xuất xứ: Việt Nam. Trọng lượng: 01 kg.

* Cá trứng được đông lạnh và có thường xuyên. Bảo quản ở nhiệt độ: -18 độ C hoặc trong ngăn đá tủ lạnh.

Mua cá Trứng Nhật ở đâu tại tphcm?

Hãy gọi  haisantuoisong.net để được tư vấn và đặt hàng

SĐT: SĐT: 0913433587 – 0985489332 (Mr.Thành )  0903732293 – 0902846085 (Ms.Hiền )

Chi Nhánh 2: 80/28 Đường Số 9, KP5, P Hiệp Bình Phước, Q Thủ Đức

Cách chế biến món ngon từ cá trứng

Cá trứng Nhật kho cà tím

Nguyên Liệu Để chuẩn bị 
– 250g cá trứng Nhật
– 1 quả cà tím (200g)
– 20g hành tím và tỏi băm nhuyễn
– 100ml nước nóng
– Muối, tiêu, đường, hạt nêm, nước mắm, dầu ăn.

Cách làm 

Cá trứng rửa sạch, để ráo

sau đó ta  ướp gia vị : ướp 2 thìa súp nước mắm, 1 thìa cà-phê đường, 2 thìa à-phê hạt nêm, tiêu, hành tỏi băm.

Tiếp theo, cà tím rửa sạch, thái khoanh tròn.

Đun nóng 3 thìa súp dầu ăn, rán sơ cà tím.

Tiếp tục đun nóng 1 thìa súp dầu ăn rồi cho 1 thìa cà-phê đường vào làm nước màu. Sau đó phi thơm hành tỏi băm, thả cá vào kho trên lửa nhỏ để cá thấm gia vị

Tiếp tục cho cà tím và 100ml nước nóng vào kho đến khi nước cá sệt lại, tắt lửa.

Dọn cá ra đĩa, rắc thêm 1/3 thìa cà-phê tiêu.

Vậy là xong rồi chúc mọi người ngon miệng nhé : 🙂

GIAO HÀNG TẬN NƠI TRONG NỘI THÀNH GIÁ CẢ CẠNH TRANH

**********TỔNG HÓA ĐƠN HƠN 500 NGHÌN GIAO HÀNG MIỄN PHÍ **********

GIÁ LUÔN THAY ĐỔI TỪNG THỜI ĐIỂM

Hãy gi  haisantuoisong.net đ được tư vn và đt hàng

SĐT: 0913433587 – 0985489332 (Mr.Thành )  0903732293 – 0902846085 (Ms.Hiền )

Địa chỉ:

Trụ sở chính: Khu Phố Định Thọ 1, TT Phú Hoà, H. Phú Hoà, Phú Yên

CN1: DNTN Hải Việt, KM3, Nguyễn Tất Thành, TP Nha Trang, Khánh Hoà

CN2: 80/28 Đường Số 9, KP5, P Hiệp Bình Phước, Q Thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh

GIÁ SỈ: CALL 
ƯU ĐÃI CHO: KHÁCH HÀNG ĐẶT HÀNG TRƯỚC 1 NGÀY ĐƯỢC GIẢM GIÁ 5K/KG

********CAM KẾT CHẤT LƯỢNG:********
– Đảm bảo cân đúng trọng lượng
– Chất lượng, luôn tươi sống, đảm bảo hợp vệ sinh, không dùng chất bảo quản.
– Bán đúng giá thị trường.
– Phục vụ  tất cả quý khách: Siêu Thị, Nhà Hàng, Quán Ăn, Trung tâm tiệc cưới, đám tiệc, gia đình..


【#2】Muốn xuất khẩu cá tra phải học tiếng Trung, bỏ qua Anh, Nhật

“Thay vì học tiếng Anh, tiếng Nhật thì nên ráng học tiếng Trung Quốc. Đây là một ví dụ điển hình và cũng là cách làm hay để có thể dễ tiếp cận, tìm hiểu về thị trường lớn này, qua đó giúp giữ vững hoặc tiếp tục tăng sản lượng xuất khẩu trong thời gian tới” – lãnh đạo Hiệp hội Cá tra Việt Nam cho biết.

Người dân phường Thới An, quận Ô Môn, TP.Cần Thơ thu hoạch cá tra. Ảnh: Huỳnh Xây.

Người dân phường Thới An, quận Ô Môn, TP.Cần Thơ thu hoạch cá tra. Ảnh: Huỳnh Xây.

Trung Quốc ăn cá tra Việt nhiều nhất thế giới

Tính đến tháng 3, diện tích cá tra nuôi mới ở đồng bằng sông Cửu Long ĐBSCL là 739ha, so với cùng kỳ năm 2016 tăng 26ha. Địa phương có diện tích thả nuôi mới nhiều nhất là An Giang với tổng diện tích là 186ha, tăng 128ha so với cùng kỳ.

Theo ngành chức năng các địa phương, nguyên nhân tăng diện tích trên là do giá cá nguyên liệu bán ra tăng (hiện đang ở mức 26.000 đồng/kg). Giá cá nguyên liệu tăng cũng đã kéo theo giá cá giống tăng, hiện từ 28.500-36.000 đồng/kg (loại 30 con/kg).

Mặc dù diện tích nuôi tăng nhưng theo thống kê, kim ngạch xuất khẩu cá tra đang giảm, cụ thể là đến nửa đầu tháng 2, chỉ đạt 164 triệu USD, giảm đến 9,2% so với cùng kỳ. Trong đó, thị trường Mỹ, EU và ASEAN giảm, riêng Trung Quốc tăng.

Theo phóng viên tìm hiểu, không chỉ riêng 2 tháng đầu năm 2017, kim ngạch xuất khẩu cá tra sang Trung Quốc đã tăng đều từ năm 2010 cho đến năm 2016. Cụ thể, năm 2010, kim ngạch đạt 43 triệu USD nhưng đến năm 2015 đã lên đến 154 triệu USD, năm 2016 đạt 272 triệu USD.

“Trung Quốc là thị trường lớn do có nhu cầu cao về thuỷ sản, dễ vận chuyển khi xuất khẩu do có chung đường biên giới. Hơn nữa, đây là thị trường có tính ổn định về hải quan và không đòi hỏi quá cao về tiêu chuẩn” – ông Trần Thanh Phong – đại diện Hiệp hội Cá tra Việt Nam thông tin.

Muốn xuất khẩu cá tra phải học tiếng Trung, bỏ qua Anh, Nhật - 2

Người dân phường Thới An, quận Ô Môn, TP.Cần Thơ đang cân cá tra đưa đi tiêu thụ. Ảnh: Huỳnh Xây.

“Phải ráng học tiếng Trung Quốc”

Về diện tích thả nuôi mới được mở rộng do giá cá bán ra tăng, ông Võ Hùng Dũng – Giám đốc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam chi nhánh Cần Thơ (VCCI – Cần Thơ)- Phó Chủ tịch Hiệp hội Cá tra Việt Nam nêu quan điểm: “Không thể trách nông dân nuôi cá chạy theo giá thị trường, vì họ không nuôi thì lấy gì mà sống”.

“Cơ quan lãnh sự, cơ quan ngoại giao, tham tán thương mại nhiều nơi nhưng thông tin thị trường tiêu thụ ở các nước vẫn còn rất yếu. Trách nhiệm ở đây là của Nhà nước đã để dể xảy ra tình trạng này, gây tổn thất lớn cho ngành thuỷ sản. Ở đây, ngành chức năng không làm được gì thì rầy người dân” – Giám đốc VCCI Cần Thơ nói.

Ông Dũng khẳng định, vấn đề giá cả cá tra hiện nay lên hay xuống đã không còn phụ thuộc vào nguồn cung khan hiếm mà là do nhu cầu thị trường thay đổi. Khi thị trường không cần thì giá cá lập tức sẽ xuống ngay. Để xuất khẩu tăng, giá cả ổn định trong thời gian tới, riêng ở thị trường Trung Quốc, ông Dũng cho rằng, cách duy nhất ở đây là nghiên cứu nhiều hơn về thị trường này.

Về thị trường Châu Âu, ông Dũng cho biết, phải tăng cường về chất lượng, có tư liệu vững chắc để người mua tin tưởng và có cách phản bác lại những thông tin sai lệch về chất lượng đối với sản phẩm cá của nước ta.

Theo VCCI – Cần Thơ, hiện nay, ĐSBCL đang gặp khó khăn về con giống cá tra vì nguồn cá bố mẹ có chất lượng cực kỳ khan hiếm, phần lớn đã bị suy thoái. Con giống là vấn đề sống còn của ngành thuỷ sản nhưng thực tế, ở khu vực trọng điểm về nông nghiệp này, vẫn chưa có cơ quan nào nghiên cứu sâu về vấn đề nguồn cá giống.

Theo Huỳnh Xây (Dân Việt)


【#3】Hòa Bình, Bà Rịa – Vũng Tàu hỗ trợ cho người nuôi cá bị thiệt hại

Tin tức thủy sản tổng hợp về khai thác thủy sản, nuôi trồng thủy sản, chính sách khuyến nông và tình hình dịch bệnh ở địa phương.
Bản tin thủy sản tổng hợp, tin thủy sản, tin tức thủy sản địa phương
Hình minh họa: Internet

1. Ninh Thuận: Tín hiệu vui từ khai thác thủy sản

Sở NN-PTNT Ninh Thuận cho biết, trong 6 tháng đầu năm 2017, toàn tỉnh có sản lượng khai thác thủy sản đạt 43.763 tấn, tăng 31,6% so với cùng kỳ. Trong đó: cá các loại là 42.390 tấn, giáp xác 117 tấn, nhuyễn thể 902 tấn và hải sản khác 353 tấn.

2. Nuôi cá Chạch thương phẩm có lợi nhuận cao

 nuôi trồng thủy sản, cá, nuôi cá, tin thủy sản

Được sự hỗ trợ về kỹ thuật và con giống của Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư tỉnh Quảng Bình, anh Lê Xuân Ngọc ở xã Tân Thủy, huyện Lệ Thủy mạnh dạn thử nghiệm mô hình nuôi cá chạch bùn thương phẩm.

Giữa tháng 4 năm nay, anh Ngọc đã vào trại giống ở Cần Thơ trực tiếp lấy 2.600 con cá chạch bùn về nuôi thả trên 750m2 ao lót bạt. Kết quả đến nay, cá chạch đã đạt trọng lượng khoảng 40 con/kg, tỷ lệ sống lên đến 98%. Theo ước tính, nếu tiếp tục nuôi đạt đến khối lượng thương phẩm là 30 con/kg, với giá thị trường từ 100.000 – 120.000 đồng/kg như hiện nay, mô hình nuôi cá chạch bùn sẽ thu được hiệu quả kinh tế cao.

3. Bà Rịa – Vũng Tàu: Doanh nghiệp bị buộc bồi thường hơn 5 tỷ đồng vì làm cá chết

TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu hôm qua tuyên buộc 9 doanh nghiệp chế biến hải sản ở xã Tân Hải, huyện Tân Thành bồi thường cho 33 hộ dân nuôi cá trên sông Chà Và hơn 5,4 tỷ đồng. Trong đó, công ty bồi thường cao nhất hơn 1,2 tỷ đồng, thấp nhất là 58 triệu đồng.

Xem thêm

4. Hòa Bình: Hỗ trợ các hộ nuôi cá lồng sau vụ cá chết bất thường ở hồ thủy điện Pleikrông

Ngày 3/8, UBND huyện Đăk Hà (Kon Tum) cho biết huyện đã xuất ngân sách gần 283 triệu đồng hỗ trợ 5 hộ dân ở thị trấn Đăk Hà và xã Đăk Mar có nuôi cá lồng trên lòng hồ thủy điện Pleikrông bị chết bất thường vào ngày 11 – 13/7.

Mức hỗ trợ này tuy chưa cao so với thiệt hại của người dân (hơn 2,3 tỷ đồng) nhưng cũng góp phần động viên, giúp họ thêm động lực vượt qua khó khăn, khôi phục sản xuất.

5. Cà Mau: Vẫn chưa xác định được chủ thể làm cá chết

Hiện tượng cá chết tại các tuyến sông: Gành Hào, Mương Điều, Bảy Háp, Kinh xáng Lương Thế Trân thời gian qua, nguyên nhân ban đầu là do hàm lượng ôxy trong nước thấp và mức độ ô nhiễm nguồn nước cao nên cá bị ngộ độc, đặc biệt là ngộ độc Amoni, Nitrit”, ông Châu Công Bằng – Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Cà Mau nhận định. Tại báo cáo số 887, ngày 1/8 của Sở NN&PTNT, do ông Châu Công Bằng ký ban hành ngày 1/8 khẳng định, qua phân tích mẫu nước tại những nơi trọng điểm cá chết trong thời gian qua, các yếu tố môi trường gây bất lợi trực tiếp lên đối tượng thủy sản đều vượt nhiều lần so với mức độ cho phép.

 nuôi trồng thủy sản, cá, nuôi cá, cá chết

Nước đen ngòm, ven bờ có thải xỉ than ở phía sau một cơ sở sản xuất nằm ngay ngã ba Hòa Trung, gần kề với Trạm Quan trắc thuộc Trung tâm Kỹ thuật – Công nghệ – Quan trắc Tài nguyên và Môi trường tỉnh.

(Theo Tepbac)


【#4】Tháng 7/2017, xuất khẩu nông lâm thuỷ sản cán mốc 3 tỷ USD

Theo báo cáo thống kê từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản tháng 7 năm 2017 ước đạt 3,11 tỷ USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu 7 tháng đầu năm 2017 đạt 20,45 tỷ USD, tăng 14,7% so với cùng kỳ năm 2016.

Tháng 7/2017, xuất khẩu nông lâm thuỷ sản cán mốc 3 tỷ USD

Trong đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính ước đạt 10,89 tỷ USD, tăng 18% so với cùng kỳ năm 2016; Giá trị xuất khẩu thuỷ sản ước đạt 4,31 tỷ USD, tăng 17,5% so với cùng kỳ năm 2016; Giá trị xuất khẩu các mặt hàng lâm sản chính ước đạt 4,41 tỷ USD, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm 2016.

Tính theo giá trị thì xuất khẩu thủy sản là mặt hàng đứng đầu của tháng 7 năm 2017 với giá trị ước đạt 727 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu thủy sản 7 tháng đầu năm 2017 ước đạt 4,3 tỷ USD, tăng 17,5% so với cùng kỳ năm 2016.

Giá trị xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ tháng 7 năm 2017 cũng đạt 550 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ 7 tháng đầu năm 2017 ước đạt 4,2 tỷ USD, tăng 11% so với cùng kỳ năm 2016.

Hoa Kỳ, Trung Quốc, và Nhật Bản – 3 thị trường nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2017 – chiếm 70,2% tổng giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ. Các thị trường có giá trị xuất khẩu gỗ tăng mạnh là Trung Quốc (29%), Canada (21,8%), Hoa Kỳ (18,7%), (Đức 10,6%) và Hàn Quốc (9,2%).

Đứng thứ 3 là giá trị xuất khẩu hàng rau quả tháng 7 năm 2017 ước đạt 360 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu hàng rau quả 7 tháng đầu năm 2017 ước đạt 2,03 tỷ USD, tăng 48,9% so với cùng kỳ năm 2016.

Khối lượng hạt điều xuất khẩu tháng 7 năm 2017 ước đạt 34 nghìn tấn với giá trị 355 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu hạt điều 7 tháng đầu năm 2017 ước đạt 186 nghìn tấn và 1,83 tỷ USD, giảm 2,2% về khối lượng nhưng tăng 24,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Xuất khẩu cà phê tháng 7 năm 2017 ước đạt 106 nghìn tấn với giá trị đạt 242 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu cà phê 7 tháng đầu năm 2017 ước đạt 937 nghìn tấn và 2,12 tỷ USD, giảm 16,4% về khối lượng nhưng tăng 7,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Đồng thời, theo ước tính khối lượng xuất khẩu cao su tháng 7 năm 2017 đạt 154 nghìn tấn với giá trị đạt 230 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu cao su 7 tháng đầu năm 2017 ước đạt 639 nghìn tấn và 1,13 tỷ USD, tăng 12,8% về khối lượng và tăng 59,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Khối lượng gạo xuất khẩu tháng 7 năm 2017 ước đạt 465 nghìn tấn với giá trị đạt 201 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu gạo 7 tháng đầu năm 2017 ước đạt 3,3 triệu tấn và 1,5 tỷ USD, tăng 15,7% về khối lượng và tăng 13,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Giá gạo xuất khẩu bình quân 6 tháng năm 2017 đạt 444,6 USD/tấn, giảm 1,4% so với cùng kỳ năm 2016. Trung Quốc vẫn tiếp tục đứng vị trí thứ nhất về thị trường nhập khẩu gạo của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2017 với 43,6% thị phần, đứng thứ 2 là Philippin với 8,1% thị phần.

Theo Hạ An

BizLive


【#5】Phát triển cá rô phi: Cần cung cấp đủ giống chất lượng tốt

Trong tương lai, cá rô phi sẽ là sản phẩm thay thế các loài cá thịt trắng đang ngày càng giảm. Việt Nam giàu tiềm năng phát triển sản xuất đối tượng này, nhưng để thành công, cần phải giải quyết “bài toán” cung cấp đủ giống có chất lượng tốt. Đây là vấn đề cấp bách đòi hỏi sự chung tay của các nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp…

Tiềm năng và cơ hội

Cá rô phi là tên gọi chung của khoảng 80 loài cá thuộc ba giống: Tilapia, Sarotherondon và Oreochromis thuộc họ Cichlidae. Trong ba giống thì các loài cá rô phi vằn O. niloticus, cá rô phi xanh O. aureus và cá rô phi hồng Oreochromis sp.; có khả năng thích ứng tốt trong các điều kiện môi trường nuôi khác nhau, có tốc độ lớn tương đối nhanh, là những loài đang được nuôi phổ biến nhất trên thế giới thuộc giống Oreochromis. Ở Việt Nam, cá rô phi được nuôi trong lồng, ao, cả trong môi trường nước ngọt và lợ. Cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) chủ yếu được nuôi ở các tỉnh phía Bắc và cá rô phi hồng (Oreochromis sp) được nuôi ở các tỉnh phía Nam. Theo thống kê của Tổng cục Thủy sản, năm 2015, tổng sản lượng cá rô phi các vùng trên cả nước là 187.800 tấn, diện tích đạt 25.748 ha và 1,21 triệu m3 lồng nuôi, giá trị ước 4.200 tỷ đồng (tương đương 200 triệu USD), chiếm khoảng 3% giá trị nuôi trồng thủy sản. Tiêu thụ cá rô phi tại thị trường nội địa phát triển với khoảng 160.000 tấn. Xuất khẩu cá rô phi hơn 27,5 triệu USD với hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ.


Người nuôi vẫn thiếu giống cá rô phi chất lượng cao  Ảnh: Vũ Mưa

Cá rô phi hiện đang có thị trường tiêu thụ tốt trong nước cũng như xuất khẩu. Nhu cầu tiêu thụ cá rô phi trên thế giới trong vòng 10 năm trở lại đây có tốc độ tăng trưởng rất nhanh, khoảng 30 – 40%/năm. Các nước có nhu cầu tiêu thụ cao gồm cả Mỹ, nơi cá rô phi xếp thứ 8 trong danh sách 10 loài thủy sản được tiêu thụ nhiều nhất.

Tập trung chất lượng giống

Việc phát triển cá rô phi cũng gặp không ít thách thức. Vì Việt Nam là nước đi sau trong sản xuất cá rô phi nên việc xâm nhập vào các thị trường nhập khẩu lớn là rất khó. Hơn nữa, cá rô phi của Việt Nam sản xuất còn hạn chế về số lượng, kích cỡ, chưa có thương hiệu và thiếu các sản phẩm đặc trưng. Chưa kể, dịch bệnh vẫn xảy ra, thiếu nguồn giống chất lượng cao, kháng bệnh… Tại khu vực phía Nam, đàn cá bố mẹ có dấu hiệu thoái hóa, tốc độ sinh trưởng chậm, đặc biệt là giống chịu mặn; Khu vực phía Bắc thường thiếu giống mùa đông.

Với những khó khăn trên, để phát triển nuôi cá rô phi bền vững, Bộ NN&PTNT đã ban hành Quyết định số 1639/QĐ-BNN-TCTS, ngày 6/5/2016 về Phê duyệt Quy hoạch phát triển nuôi cá rô phi đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 với mục tiêu phát triển nuôi cá rô phi thành ngành sản xuất hàng hóa lớn, hiệu quả, bền vững với sản phẩm đa dạng, giá trị cao đáp ứng thị trường xuất khẩu và tiêu thụ trong nước; Sản xuất đủ con giống chất lượng cao cung cấp cho người nuôi thương phẩm, môi trường dịch bệnh trong sản xuất được kiểm soát tốt; Góp phần tạo công ăn việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân.

Riêng về định hướng sản xuất giống, Bộ NN&PTNT xác định rõ mục tiêu quy hoạch vùng sản xuất giống tập trung. Cụ thể: Đầu tư mới, nâng cấp và mở rộng quy mô, năng lực các cơ sở sản xuất giống ở Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dương, Quảng Ninh, Thái Bình và Thanh Hóa để cung cấp cho nhu cầu nuôi thương phẩm trong vùng và các địa phương khác ở miền Bắc. Đầu tư cơ sở sản xuất giống ở Đắk Lắk để cung cấp nhu cầu giống nuôi cho 5 tỉnh khu vực Tây Nguyên. Mở rộng quy mô sản xuất cá rô phi đơn tính đực tại Bình Định, Quảng Nam để cung cấp cho các cơ sở nuôi thương phẩm tại địa phương và đáp ứng một phần nhu cầu cá rô phi giống tại miền Bắc vào đầu vụ (tháng 2 – 4 hàng năm). Hình thành vùng sản xuất giống cá rô phi tập trung tại Tiền Giang, Hậu Giang, An Giang, Đồng Tháp và Cần Thơ để chủ động sản xuất con giống đảm bảo chất lượng, cung cấp đủ cho nhu cầu nuôi trong vùng và các vùng khác trên phạm vi cả nước. Cải tạo đàn cá bố mẹ và nâng cao năng lực sản xuất giống cá rô phi tại các trung tâm sản xuất giống thủy sản nước ngọt cấp 1, góp phần chủ động nguồn cá rô phi giống chất lượng tốt cho nhu cầu tại chỗ. Đến năm 2020, Trung tâm Chọn giống cá rô phi thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I và các Trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt miền Bắc, Trung và Nam sản xuất đủ cá rô phi bố mẹ, hậu bị chất lượng cao, cung cấp cho các cơ sở sản xuất giống cá rô phi trong nước.

(Theo Thủy sản Việt Nam)


【#6】Nuôi trồng thủy sản ở miền Trung: Để hiệu quả mà vẫn bền vững

Nhiều mô hình nuôi trồng thủy sản tại các tỉnh ven biển miền Trung đưa lại lợi nhuận cao cho người nông dân, trong đó có mô hình đạt lợi nhuận 3 tỷ đồng/ha/năm. Tuy nhiên để phát triển bền vững còn nhiều vấn đề phải bàn.

Ông Kim Văn Tiêu, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia (giữa)   Ảnh: TTKNQG chia sẻ về mô hình nuôi xen ghép TTCT - cá dìa

Ông Kim Văn Tiêu, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia (giữa) chia sẻ về mô hình nuôi xen ghép TTCT – cá dìa Ảnh: TTKNQG

Nhiều khó khăn

Theo ông Nguyễn Bá Sơn, Vụ Nuôi trồng Thủy sản, các tỉnh ven biển miền Trung từ Hà Tĩnh đến Quảng Ngãi có điều kiện thuận lợi để phát triển nuôi trồng thủy sản, trong đó có nuôi tôm nước lợ, cá biển, nhuyễn thể, nhất là nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh trên vùng đất cát, đặc biệt là mô hình nuôi xen ghép thâm canh vừa đạt hiệu quả kinh tế cao vừa bảo vệ môi trường. Năm 2016, diện tích nuôi mặn, lợ 7 tỉnh trong vùng đạt 15.608 ha, sản lượng 38.911 tấn; diện tích nuôi nước ngọt 19.443 ha, sản lượng 32.675 tấn. Tuy nhiên, nơi đây còn nhiều khó khăn, thách thức như điều kiện khí hậu khắc nghiệt; suy thoái và ô nhiễm môi trường, dịch bệnh ngày càng diễn biến phức tạp; cơ sở hạ tầng nhiều vùng nuôi thâm canh chưa đảm bảo dẫn đến mức độ rủi ro cao; kiểm soát vật tư đầu vào, kháng sinh, chất xử lý cải tạo môi trường ao nuôi còn nhiều bất cập…

Đại diện Sở NN&PTNT Thừa Thiên – Huế chia sẻ, phần lớn diện tích ao nuôi vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai của tỉnh chưa đảm bảo quy cách, chủ yếu sử dụng phương thức nuôi quảng canh cải tiến, bán thâm canh, hiệu quả sản xuất chưa cao. Việc xả thải bừa bãi nguồn nước chưa qua xử lý, quy trình nuôi được áp dụng chưa đúng kỹ thuật khiến cho dịch bệnh dễ lây lan và gây ô nhiễm môi trường. Địa phương cũng như các tỉnh ven biển miền Trung, việc quy hoạch và quản lý quy hoạch nuôi trồng thủy sản còn nhiều bất cập; quản lý nhà nước về thủy sản chưa thống nhất giữa các địa phương; các giải pháp kỹ thuật nuôi mới, biện pháp phòng trị bệnh chưa được chia sẻ ứng dụng rộng rãi…

Giải pháp

Theo kế hoạch, diện tích nuôi trồng thủy sản các tỉnh miền Trung đến năm 2020 là 36.980 ha, trong đó diện tích mặn, lợ là 22.140 ha, nước ngọt là 14.840 ha; Tổng sản lượng khoảng 158.190 tấn; Sản xuất giống thủy sản cung cấp cho thị trường 100 tỷ giống hải sản các loại và 400 triệu giống thủy sản nước ngọt; giá trị xuất khẩu đạt 1.200 triệu USD.

Trong những năm qua, để nuôi trồng thủy sản ở các tỉnh miền Trung đạt hiệu quả cao và bền vững nhiều mô hình đã được triển khai. Theo ông Kim Văn Tiêu, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, những năm qua Trung tâm đã phối hợp với khuyến nông các tỉnh ven biển miền Trung, các viện nghiên cứu, trường đại học xây dựng nhiều mô hình về khuyến ngư đạt hiệu quả cao như: Mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng theo tiêu chuẩn VietGAP thuộc dự án xây dựng mô hình nuôi tôm sú, tôm thẻ chân trắng tại các tỉnh ven biển miền Trung. Mô hình này đạt lợi nhuận cao trung bình trên 500 triệu đồng/ha, hiệu quả tăng hơn 39% so mô hình không theo VietGAP, tỷ suất lợi nhuận tăng gần 1,4 lần.

Hay mô hình nuôi tôm theo công nghệ biofloc của ông Lê Minh Chính (xã Ninh Phú, huyện Ninh Hòa, Khánh Hòa) rất đáng để nhân rộng. Năm 2016, chỉ với 0,5 ha ao nuôi tôm đã cho năng suất 78 tấn/4 vụ nuôi, tỷ lệ lợi nhuận đạt 52%/vốn đầu tư. Mô hình nuôi luân canh tôm sú – rong câu tại Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Khánh Hòa và Ninh Thuận cũng đưa lại lợi nhuận đạt trên 200 triệu đồng/ha.

Đặc biệt phải kể đến mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng trên cát xen canh với cá dìa của ông Phạm Thanh Kiều (xã Vinh Mỹ, huyện Phú Lộc, Thừa Thiên – Huế). Sau nhiều năm liên tục thua lỗ nặng bởi mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng trên cát, ông Kiều chuyển sang nuôi xen canh tôm thẻ chân trắng với cá dìa nhằm hạn chế dịch bệnh. Chỉ với 3 ao nuôi có diện tích gần 1 ha nhưng ông Kiều có tổng doanh thu 3,99 tỷ đồng, lợi nhuận 3 tỷ đồng/năm.

Ông Nguyễn Bá Sơn khuyến cáo, để thủy sản phát triển bền vững cần đa dạng đối tượng nuôi và phương thức nuôi với cơ cấu diện tích và sản lượng phù hợp với từng vùng kinh tế, sinh thái trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh cụ thể của từng sản phẩm (nuôi thâm canh tôm thẻ chân trắng vùng đất cát có lợi thế, nuôi xen ghép tôm – cua – cá, nuôi nhuyễn thể, cá rô phi). Đẩy mạnh áp dụng nuôi có chứng nhận, phát triển các mô hình nuôi công nghệ cao, nuôi tuần hoàn tiết kiệm nước…

(Theo Thủy sản Việt Nam)


【#7】Kỹ thuật nuôi thương phẩm cá chiên trong lồng

Cá chiên là đối tượng thủy đặc sản quý hiếm có giá trị kinh tế cao, một trong số các loài cá được xếp vào “ngũ quý”. Chúng thường sống trong các sông suối thuộc các tỉnh phía Bắc và tập trung ở vùng trung, thượng lưu của các sông lớn, nơi có dòng nước chảy xiết.

Thường xuyên kiểm tra tình trạng của cá nuôi trong lồng   Ảnh: CTV

Thường xuyên kiểm tra tình trạng của cá nuôi trong lồng Ảnh: CTV

Vị trí neo lồng

Chọn nơi thông thoáng, ít tàu thuyền qua lại, có nguồn nước sạch không bị ô nhiễm bởi chất thải công nghiệp, nông nghiệp, nước thải sinh hoạt. Nước sâu từ 3 m trở lên, đáy lồng cách đáy ít nhất 0,5 m, lưu tốc dòng chảy 0,2 – 0,3 m/s, không nên nuôi ở nơi nước đứng. Môi trường nước phải đảm bảo các yếu tố sau: pH 6,5 – 8,5; ôxy hòa tan > 5 mg/lít; NH3 < 0,01 mg/lít; H2S < 0,01 mg/lít, nhiệt độ nước 20 – 330C. Vị trí đặt lồng phải thuận lợi về giao thông để tiện trong việc cung cấp con giống, thức ăn, chăm sóc, quản lý, thu hoạch và vận chuyển tiêu thụ sản phẩm.

Thiết kế lồng nuôi

Vật liệu: Toàn bộ khung lồng làm bằng ống thép phi 34 (hoặc phi 42, phi 49) có mạ lớp kẽm chống rỉ, mỗi cây dài 6 m và ống nối sắt phi 34.

Khung lồng: Khung lồng có kích thước 29 x31 m, gồm 2 dãy, mỗi dãy 5 ô để mắc lưới lồng nuôi, mỗi ô kích thước 7×9 m hoặc khung lồng có kích thước 18×18 m, gồm 3 dãy, mỗi dãy 3 ô để mắc lưới lồng nuôi, mỗi ô kích thước 5×5 m. Các ống thép phi 34, mỗi cây có chiều dài 6 m được nối thẳng với nhau bằng ống nối phi 34. Toàn bộ các tiếp sắt dọc và ngang được hàn gắn chặt với nhau tạo thành khung lồng.

Phao nâng lồng: Dùng tấm xốp có kích thước 50x60x90 cm, thùng phuy sắt hoặc phuy nhựa 200 lít. Để đảm bảo sức nổi của lồng, bố trí mỗi ô lồng từ 4 – 6 phao, phao được cố định vào khung lồng bằng dây thép.

Lồng lưới: Có dạng hình hộp lập phương hoặc hình chữ nhật có 1 mặt đáy, 4 mặt bên, mặt để hở gọi là miệng lồng. Lồng làm bằng lưới polyetylen (PE) dệt không co rút. Cỡ mắt lưới phụ thuộc vào kích cỡ cá lúc thả thường (2a) = 1 – 4 cm, trong một vụ nuôi thường sử dụng 3 loại mắt lưới: Ban đầu chọn mắt lưới có kích thước (2a) = 1cm, kích thước thứ 2: 2a = 2,5 cm, kích thước thứ 3: 2a = 4 cm, đáy lồng dùng bao cát thả bốn góc lồng. Trên các mặt của thành lồng có lớp lưới chắn cao 0,5 m để ngăn thức ăn trôi ra ngoài.

Lắp cụm lồng: Đặt các phi song song, khoảng cách các phao bằng khoảng cách lồng lưới. Dùng khung lồng đã hàn sẵn đặt lên phao, gắn phao vào khung lồng bằng dây thép. Lắp khung cụm lồng đặt trên bờ sau đó chuyển xuống nước để lắp lồng lưới. Trên cụm lồng lắp nhà bảo vệ diện tích bằng 1 – 2 ô lồng.

Chọn giống và thả giống


Cá giống phải khỏe mạnh, không dị hình, xây xát, kích cỡ đồng đều, không bị mất nhớt. Cá hoạt động linh hoạt, bơi lội nhanh nhẹn, kích cỡ 30 – 50 con/kg. Cá giống này đã được nuôi trong ao cho đến khi đạt kích thước trên mới đưa ra thả trong lồng.

Mật độ thả: Nuôi lồng trên hồ chứa thả 5 – 7 con/m3 lồng. Nuôi lồng trên sông thả 7 – 10 con/m3 lồng.

Mùa vụ thả giống: Tốt nhất nên thả giống nuôi vào tháng 4 khi nhiệt độ môi trường đã lên cao. Khi thả cá, cân bằng môi trường nước bằng cách ngâm bao chứa cá vào lồng nuôi trong thời gian 10 – 15 phút, sau đó cho nước từ từ vào miệng túi và tiến hành thả cá.

Cho ăn

Thức ăn là cá tươi băm nhỏ, kích cỡ phù hợp từng giai đoạn phát triển của cá. Giai đoạn cá 50 – 150 g/con cho ăn 2 lần/ngày với khẩu phần bằng 5 – 7% khối lượng thân. Giai đoạn cá > 150 g/con chỉ cần cho ăn 1 lần/ngày vào cuối buổi chiều. Khẩu phần cho ăn bằng 3 – 4% khối lượng thân. Hàng ngày, kiểm tra sàng ăn và hàng tháng kiểm tra tăng trọng cá để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp.

Quản lý lồng nuôi

Thường xuyên quan sát hoạt động của cá trong các lồng nuôi, tình hình sử dụng thức ăn và các hiện tượng bất thường khác xảy ra. Mỗi tuần vệ sinh lồng một lần, dùng bàn chải nhựa cọ sạch các cạnh bên lồng lưới. Việc vệ sinh lồng tiến hành trước khi cho cá ăn. Trong quá trình vệ sinh cần kiểm tra lồng, phát hiện kịp thời các vết rách, rạn nứt để kịp thời khắc phục nhằm hạn chế cá đi mất. Loại bỏ rác trôi nổi và các vật cứng vào khu bè nuôi. Vào mùa mưa lũ, phải kiểm tra cá dây neo, di chuyển lồng vào vị trí an toàn khi có bão, lũ.

Khi cá có các dấu hiệu bất thường như thay đổi màu sắc, kém ăn hoặc bỏ ăn, cá bị lồi mặt, lở loét… cần phải có biện pháp xử lý ngay.

Phòng trị bệnh

Bệnh nhiễm khuẩn

Nguyên nhân: Do nuôi cá với mật độ cao, chất lượng nước và thức ăn kém, cá bị xây xát do đánh bắt hoặc do ký sinh trùng bám.

Dấu hiệu bệnh: Mầm bệnh là các vi khuẩn (Aeromonas spp) thường xuyên có mặt trong nước, các chất thải từ cá và có thể từ nguồn thức ăn (cá tạp ôi…). Cá bị bệnh xuất hiện các vết loét và xuất huyết trên thân, xơ vây, lồi và loét mắt.

Phòng và trị: Cần tính toán mật độ thả cho phù hợp. Thường xuyên vệ sinh lồng lưới để đảm bảo cho sự lưu thông nước và tránh làm tổn thương cá trong quá trình thao tác. Quản lý thức ăn và môi trường nước nuôi. Khi phát hiện cá dấu hiệu bệnh cần loại bỏ những con bị bệnh nặng. Tắm cho cá bằng iodine sau khi dùng kháng sinh. Trộn kháng sinh vào thức ăn cho cá ăn liền trong 7 ngày.

Bệnh ký sinh trùng

Nguyên nhân: Do trùng bánh xe, sán, rận cá, bào tử trùng, đỉa…

Dấu hiệu: Cá bơi không định hướng, ngứa ngáy và hay cọ sát vào thành lồng. Cá chuyển màu sẫm, mang nhợt nhạt, da và mang có thể bị hoại tử, cá chết nhiều nếu không xử lý kịp và đặc biệt ở cá hương, cá giống.

Cách phòng và trị: Tắm cho cá bằng hóa chất CuSO4 (0,5 ppm) hoặc nước muối 3%. Khi xử lý cần chú ý cung cấp đủ ôxy hòa tan.

Bệnh nấm

Dấu hiệu bệnh: Cơ và các cơ quan bên trong có xuất hiện đám màu trắng, có thể nhìn thấy sợi. Bệnh ít gây chết nhưng làm mất giá trị của cá.

Cách phòng trị: Tránh gây tổn thương cho cá đặc biệt trong mùa lạnh. Loại bỏ cá bị nhiễm nặng. Xử lý bệnh bằng nước muối.

Thu hoạch

Sau 12 tháng khi cá đạt kích cỡ thương phẩm (1 – 1,5 kg/con) tiến hành thu tỉa, cá nhỏ hơn tiếp tục nuôi đến cuối vụ để đạt kích cỡ thương phẩm thì thu hoạch toàn bộ.

KS Nguyễn Văn Chung – Trung tâm Quốc gia Giống thủy sản nước ngọt miền Bắc


【#8】Nước mắm Phú Quốc tiếp cận EU nhờ chỉ dẫn địa lý

Nước mắm Phú Quốc là sản phẩm đầu tiên của Việt Nam và các nước ASEAN được chính thức bảo hộ tên gọi xuất xứ tại tất cả các nước thành viên Liên minh châu Âu (gồm 28 nước thành viên) và cũng là chỉ dẫn địa lý đầu tiên của Việt Nam được công nhận và bảo hộ tại EU.

Khách du lịch thăm quan một cơ sở sản xuất nước mắm ở Phú Quốc. Ảnh: Anh Vinh.

Khách du lịch thăm quan một cơ sở sản xuất nước mắm ở Phú Quốc. Ảnh: Anh Vinh.

Với tên gọi xuất xứ “Phú Quốc” được bảo hộ tại EU, chỉ có sản phẩm nước mắm sản xuất, đóng chai tại huyện đảo Phú Quốc và đáp ứng các tiêu chuẩn cụ thể về chất lượng mới được phân phối vào thị trường EU với tên gọi xuất xứ “Phú Quốc”. Điều này đảm bảo người tiêu dùng mua đúng sản phẩm có chất lượng đặc trưng và chính hiệu, giúp ngăn chặn hàng giả, hàng nhái Nước mắm Phú Quốc tại thị trường Liên minh châu Âu.

Mất 6 năm trời, nước mắm Phú Quốc mới được EU chấp nhận bảo hộ chỉ dẫn địa lý. Thành tựu quan trọng này đạt được nhờ nỗ lực của các bộ, ngành, hiệp hội, địa phương. Bà Nguyễn Thị Tịnh, Chủ tịch Hội nước mắm Phú Quốc vui mừng cho biết, sau khi được bảo hộ chỉ dẫn địa lý việc quản lý và phát triển chỉ dẫn địa lý nước mắm Phú Quốc đã đạt được nhiều kết quả. Nhận thức của DN và người tiêu dùng cũng nâng lên rõ rệt.

Theo Bộ Công Thương, kể từ khi được EU chấp nhận bảo hộ, số lượng sản phẩm nước mắm bán ra tại thị trường này đạt gần 500.000 lít.  Không chỉ tăng số lượng, với tên gọi xuất xứ được bảo hộ này thì giá bán của sản phẩm Phú Quốc theo chứng nhận của cơ quan hữu quan Việt Nam đã tăng từ 30-50% tùy từng loại sản phẩm khác nhau. Cũng nhờ đó mà DN Việt Nam có cơ hội tăng XK sang các thị trường khác như: Hoa Kỳ, Australia, Nhật Bản, Canada. Dự báo, khi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam- EU có hiệu lực vào năm 2018, EU sẽ đồng ý bảo hộ 39 chỉ dẫn địa lý của Việt Nam. Theo đó, ngoài nước mắm Phú Quốc, các sản phẩm thế mạnh của Việt Nam như cà phê, chè… sẽ có thêm cơ hội để khai thác hưởng lợi từ việc đăng ký chỉ dẫn địa lý.

Như vậy, chỉ dẫn địa lý không chỉ là “giấy thông hành” để các sản phẩm của Việt Nam tiếp cận các thị trường khó tính như EU mà còn là công cụ để bảo vệ nhà sản xuất, người tiêu dùng, thị trường, là cơ sở để hạn chế tình trạng sử dụng thương hiệu giả, nhái, tăng tính cạnh tranh so với các sản phẩm thông thường. Do đó, việc các mở rộng các sản phẩm, đặc biệt là nông sản hướng tới đăng ký chỉ dẫn địa lý đang là hướng đi đúng đắn để gia tăng cơ hội XK sang EU. Bà Lê Thị Thu Hà, Đại học Ngoại thương nhìn nhận: “Quá trình xây dựng một bộ hồ sơ chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm nước mắm Phú Quốc khó khăn bao nhiêu thì cơ hội để sản phẩm này tiếp cận được EU lớn đến bây nhiêu. Vì thế, chúng ta cần có chiến lược bài bản để khai thác, tận dụng cơ hội này”.

Tuy vậy, để các sản phẩm có chỉ dẫn địa lý của Việt Nam có thể vượt qua các rào cản kỹ thuật để vào thị trường EU, Việt Nam cần xác lập một hệ thống kiểm định chất lượng quốc gia khi xem xét và công nhận bảo hộ chỉ dẫn địa lý. Đặc biệt, trước một thị trường khó tính như EU, Việt Nam cần học tập kinh nghiệm từ các nước châu Âu trong việc xây dựng hệ thống kiểm soát chỉ dẫn địa lý, qua đó có điều kiện nâng cao hơn nữa giá trị XK vào thị trường rộng lớn này.

Thu Phan
Theo Báo Hải Quan


【#9】Sản xuất, tiêu thụ cá tra giống: Còn nhiều âu lo

Nghề nuôi cá tra thương phẩm và xuất khẩu ở vùng ĐBSCL trồi sụt thất thường kéo theo các cơ sở sản xuất cá tra giống cũng gặp không ít khó khăn. Làm thế nào để ổn định, nâng cao chất lượng con giống, những giải pháp vốn đã “thuộc lòng” nhưng dường như việc thực hiện vẫn còn khó khăn.

Nguồn cá tra giống đang được củng cố lại chất lượng   Ảnh: PT

Nguồn cá tra giống đang được củng cố lại chất lượng Ảnh: PT

Quanh chuyện cung – cầu

Những tháng đầu năm 2017, giá cá tra nguyên liệu có thời điểm tăng 26.000 – 27.000 đồng/kg, đạt mức cao kỷ lục trong nhiều năm qua, giúp người nuôi có lợi nhuận. Nhiều hộ “treo ao” đã thả nuôi trở lại, kéo theo nhu cầu về cá tra giống tăng vọt, khiến giá ở mức khá cao, 50.000 đồng/kg loại 45 – 50 con/kg, song nhiều cơ sở nhân giống cá tra lại không còn giống để bán.

Một chủ cửa hàng thuốc thú y thủy sản cũng là thương lái thu mua cá giống ở huyện Cai Lậy (Tiền Giang) cho biết: “Do ảnh hưởng bởi thời tiết lạnh, dịch bệnh nhiều nên tỷ lệ ương cá tra giống thành công trên địa bàn chỉ đạt 3 – 5%, khiến lượng cá tra giống rất khan hiếm. Có thời điểm, tôi cũng không có cá giống để cung cấp cho các doanh nghiệp và người nuôi”.

Hiện nay, giá cá tra giống ở ĐBSCL đã có xu hướng hạ nhiệt bởi nguồn cung đang dồi dào trở lại, dao động quanh mức 40.000 – 42.000 đồng/kg. Tuy giá này có giảm so các tháng đầu năm nhưng vẫn còn rất cao so nhiều năm trước đây và những người sản xuất giống nhìn chung đang có lợi nhuận. Theo ông Nguyễn Ngọc Hải, Chủ trang trại nuôi cá tra ở phường Thới An, quận Ô Môn (Cần Thơ), nguyên nhân giá cá tra giống giảm vì hiện đang là mùa thuận để thả nuôi cá tra, nên nguồn cung cá tra giống bắt đầu dồi dào. Nhiều hộ sản xuất cá giống đã mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu thả nuôi cá tra nguyên liệu.

Dù nguồn cung dồi dào, song nguồn cá tra giống chất lượng để đáp ứng nhu cầu vẫn là “bài toán” nan giải tại nhiều địa phương. Đơn cử như tại Vĩnh Long, thực tế, năm 2016, sản lượng cá tra sản xuất tại tỉnh chỉ đáp ứng được khoảng 20% nhu cầu, số còn lại phải nhập từ các tỉnh lân cận như Đồng Tháp, An Giang… Khảo sát của Chi cục Thủy sản Vĩnh Long cho thấy, nhu cầu con giống của tỉnh năm 2017 ước khoảng 53,3 triệu con, tuy nhiên, hiện toàn tỉnh chỉ có 18,45 ha đang ương giống với sản lượng ước khoảng 18,44 triệu con.

Cách nào để ổn định?

Theo Tổng cục Thủy sản, toàn vùng ĐBSCL hiện có 130 cơ sở cho sinh sản nhân tạo cá tra, tập trung nhiều nhất tại tỉnh Đồng Tháp (76 cơ sở). Dự kiến năm 2017, sản xuất khoảng 18 tỷ cá tra bột, khoảng 2,2 tỷ cá giống cung cấp cho nuôi thương phẩm. Năm 2017, nhu cầu thay thế đàn cá bố mẹ của ĐBSCL là 31.000 con, trong đó 15.000 con đã được các cơ sở nuôi đăng ký nhận đàn hậu bị của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II.

Cũng theo Tổng cục Thủy sản, hiện nay, sản lượng cá tra đạt khoảng 1,2 triệu tấn/năm, chiếm tỷ lệ 30% của toàn ngành với kim ngạch xuất khẩu hàng năm 1,5 – 1,8 tỷ USD. Năm 2017, dự kiến diện tích nuôi cá tra giữ ở mức 5.500 ha, sản lượng hơn 1,15 triệu tấn, phấn đấu kim ngạch xuất khẩu trên 1,7 tỷ USD.

Một hộ nuôi cá tra tại thị xã Tân Châu (An Giang) chia sẻ: “Muốn sản xuất, tiêu thụ cá tra giống ổn định, trước hết việc xuất khẩu các sản phẩm fillet ra thế giới phải ổn định. Năm nào doanh nghiệp chế biến xuất khẩu đạt kim ngạch cao thì năm đó tình hình tiêu thụ cá tra giống rất tốt. Ngược lại cực kỳ khó khăn bởi đầu ra của con giống chính là các doanh nghiệp, hộ nuôi cá thương phẩm phục vụ cho xuất khẩu. Đây là chuỗi liên hoàn và phụ thuộc lẫn nhau”. Vì vậy, theo ông việc đẩy mạnh xuất khẩu, thúc đẩy tiêu thụ tại thị trường nội địa chính là con đường giúp các hộ sản xuất cá giống phát triển ổn định.

Đại diện một doanh nghiệp xuất khẩu cá tra hàng đầu Việt Nam cho rằng, điểm yếu của ngành cá tra là số lượng và chất lượng con giống chưa được đầu tư đúng mức. Do đó, Bộ NN&PTNT cần tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất giống cá tra có được đàn cá bố mẹ chất lượng, ứng dụng công nghệ cao ở những địa phương có nhiều thế mạnh về ngành này.

Chất lượng cá tra giống là yếu tố quan trọng giúp giảm giá thành sản xuất, nâng cao chất lượng thịt, từ đó góp phần phát triển bền vững ngành cá tra. Để giải quyết vấn đề này cần phải hoàn thiện quy trình kỹ thuật ương giống, nâng cao năng lực quản lý, cần có sự hỗ trợ tích cực từ ngành chức năng và sự liên kết giữa nông dân và nhà khoa học.

Theo Thủy sản Việt Nam


【#10】Nuôi cá ghép tầng, nhiều nông dân thu lãi tiền tỷ

Hiện nay tại TP Cần Thơ xuất hiện nhiều nông dân thành đạt với mô hình nuôi ghép nhiều loại cá trong 1 ao, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Ưu điểm của mô hình này là nếu loại cá ở tầng trên ăn không hết thức ăn, các loại cá ở tầng dưới ăn tiếp nên vừa không tốn chi phí  lại đảm bảo môi trường nước thải.

Mô hình nuôi cá của ông Lê Văn Bon (57 tuổi, ở khu vực Bình Thường B, phường Long Tuyền, quận Bình Thủy, TP Cần Thơ) là một ví dụ điển hình. Cách nuôi ghép các loại cá được ông Lê Văn Bon thực hiện nhiều năm đã chứng minh đây là cách làm ăn bài bản, hiệu quả mà ông Bon bỏ nhiều công sức đầu tư phát triển.

nuoi ca ghep tang nhieu nong dan thu lai tien ty hinh 1
Ông Lê Văn Bon chăm sóc ao cá.

Ông Bon cho biết, trước năm 2000 với diện tích hơn 1 ha đất, ông Bon dành 50% diện tích đào ao nuôi cá, còn lại lên liếp trồng cây. Lúc đầu ông đi thăm quan nhiều nơi để học tập kinh nghiệm mô hình sản xuất có hiệu quả nhằm chuẩn bị vốn kiến thức làm hành trang khởi nghiệp.

“Tôi đi nhiều nơi học hỏi từ các mô hình, trang trại làm ăn có hiệu quả, từ đó nghiên cứu áp dụng với diện tích đất hiện có để chọn vật nuôi, cây trồng phù hợp, đặc biệt là nguồn nước và khí hậu thổ nhưỡng”, ông Bon cho biết.

Khi thấy nhiều người nuôi cá tra hiệu quả, trong năm đầu tiên ông Bon cũng nuôi theo, do chưa có kinh nghiệm thực tiễn nên vụ đầu ông bị lỗ hơn 100 triệu đồng. Tiếp đó, ông chuyển sang nuôi cá rô đầu vuông, cá lóc, ếch… nhưng cũng tiếp tục bị lỗ thêm 250 triệu đồng.

Qua những lần thất bại, ông Bon thấu hiểu, làm nông nghiệp thật sự không dễ dàng. Nhiều lúc ông muốn bỏ nghề nhưng với quyết tâm và sự động viên của vợ nên ông Bon lại tiếp tục công việc của mình.

Nói về những lúc nuôi cá gặp thất bại, kinh tế gia đình gặp khó khăn, chị Nguyễn Thuỷ Như – vợ ông Bon, tâm sự: “Ban đầu chăn nuôi gặp sự cố liên tục, từ khi thả giống cá đã bị chết nhiều, đến khi thu hoạch giá cá lại xuống thấp. Hai vợ chồng cùng xác định làm nghề này sẽ phải có rủi ro, từ đó động viện nhau dù khó khăn thế nào cũng cố gắng vượt qua”.

Sau những lần nuôi cá thất bại, ông Bon rút ra kinh nghiệm, khi nuôi 1 loại cá, thức ăn cá không ăn hết lại thải ra môi trường đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của bà con xung quanh; đặc biệt là với chi phí đầu tư rất cao nên khi bị lỗ sẽ càng lớn. Từ đó, ông Bon cùng gia đình tập trung sản xuất theo hướng đa canh, nuôi cá lồng ghép, trong đó chú ý nhu cầu của thị trường để tránh tình trạng trúng mùa mất giá.

Sau 3 năm thử nghiệm nhiều mô hình chăn nuôi, ông Bon nhận thấy mô hình nuôi ghép các loại cá dưới ao sẽ có tính ổn định. Năm 2003, ông Bon thả nuôi cá rô đồng ghép với cá sặc rằn rất thành công. Sau vài vụ nuôi, ông chuyển qua nuôi cá sặc rằn ghép với cá rô đầu vuông. Khi phong trào nuôi cá rô “nở rộ”, giá cá xuống thấp, ông chuyển sang nuôi cá lóc kết hợp với cá sặc rằn; cá thát lát với cá sặc rằn.

Ưu điểm của việc nuôi đa dạng các loại cá này là chúng ăn ở các tầng nước khác nhau, do vậy thức ăn không bị dư thừa làm ảnh hưởng đến môi trường, tiết kiệm được thức ăn, giảm được chi phí đầu tư, tăng hiệu quả kinh tế.

Hiện nay, mỗi vụ ông Bon thả khoảng 50.000 con cá thát lát giống, 100.000 con cá sặc rằn giống, vụ này thu hoạch hơn 15 tấn cá thát lát, 5 tấn cá sặc rằn, thu nhập hơn 1 tỉ đồng.

“Quan trọng nhất là khâu chăm sóc cho ăn và nguồn nước tốt, ổn định. Khi nuôi ghép, cá thát lát có đường ruột ngắn, ăn vào chưa tiêu hao hết năng lượng đã thải ra làm bẩn nước. Nếu nuôi cùng cá sặc rằn ăn tận dụng tầng đáy sẽ ăn phần thải của con thát lát, mình tận dụng phế phẩm của con thát lát là hiệu quả”, ông Bon kể về quy trình nuôi ghép.

Ông Lâm Việt Hải, Chủ tịch Hội Nông dân phường Long Tuyền, quận Bình Thuỷ cho biết, mô hình của ông Bon đang được nhiều bà con trong vùng đến học hỏi kinh nghiệm và làm  theo. Cách làm của ông Bon cho thấy, nếu nông dân nhanh nhạy trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chủ động thực hiện các mô hình tổng hợp thì hiệu quả kinh tế rất cao.

“Mô hình của anh Bon làm có hiệu quả . Anh Bon từng là nông dân sản xuất giỏi cấp thành phố, cấp trung ương. Những người nông dân mỗi khi cần gì thì đến anh cũng tư vấn. Anh cũng đã giúp đỡ, hướng dẫn nhiều người về kỹ thuật chăn nuôi…”, ông Hải cho hay.

Tuy đã hoàn thiện quy trình nuôi cá, nhưng ông Lê Văn Bon vẫn đang tích cực tham gia các lớp tập huấn khoa học kỹ thuật, hội thảo chuyên đề do các cấp hội nông dân và ngành nông nghiệp tổ chức. Hiện nay ông đang nuôi thử nghiệm cá Dứa, loại cá thương phẩm này đang có giá cao trên thị trường.

Theo ông Bon, trong chăn nuôi nếu không nắm bắt tiến bộ khoa học kỹ thuật ứng dụng vào sản xuất sẽ khó đạt hiệu quả cao. Chính vì vậy nên ông đã đầu tư cho người con đi tu nghiệp ở Israel để  học để nắm bắt tiến bộ khoa học kỹ thuật về ứng dụng trong sản xuất của gia đình./.

Theo báo VOV


Bạn đang xem chủ đề cá trứng nhật trên website Haisantuoisong.net. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã giới thiệu ở trên sẽ hữu ích với bạn. Nếu bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!